Trao thưởng cho tác giả Lê Va

Trao thưởng cho tác giả Lê Va

(HBĐT) - Tại lễ tổng kết và trao giải cuộc thi thơ “Phòng chống ma túy” diễn ra trong năm 2007, trong số 1.500 tác phẩm của hàng trăm tác giả từ mọi miền Tổ quốc tham dự cuộc thi, qua các vòng sơ khảo, chung khảo, Ban tổ chức đã trao 2 giả nhất, 3 giải nhì, 6 giải ba, 10 giải khuyến khích và 19 tặng thưởng.

Tỉnh Hòa Bình có nhà thơ Va đoạt giải Nhì với nhóm tác phẩm: “Giữ cho điệu khèn Mông bay bổng đại ngàn” và “Nắng thiêu hoa”; nhà thơ Đặng Ngọc Thành giải Khuyến khích với tác phẩm: “Nghe câu hát ví trăng lên”.

 

Báo Hòa Bình giới thiệu bài thơ: “Giữ điệu khèn Mông bay bổng đại ngàn” của nhà thơ Va và lời bình bài thơ này của Xuân Hưng:

 

                                     Giữ điệu khèn Mông

                                      bay bổng đại ngàn

 

                             Hoa anh túc đã không còn nhe nhởn

                             Trả núi rừng cho đào mận đơm hoa

                             Người Mông ta vươn vai đứng dậy

                             Khèn đêm trăng tha thiết gọi bạn tình

 

                             Niềm vui ngắn, khổ đau ập đến

                             Chim lìa đàn, tan tác chia ly

                             Cái chết trắng len vào xóm bản

                             Luồng gió đen thổi rỗng đại ngàn

 

                             Ruộng nương cỏ mọc hơn rừng rậm

                             Điệu múa khèn xa xót đêm trăng

                             Vợ người Mông đầu tắt mặt tối

                             Gói mèn mén xuống núi thăm chồng

 

                             Trại giam lạnh người thân bối rối

                             Quần áo tù thay trang phục người Mông

                            “ Tao đã bảo mày đừng buôn ma tuý

                            Mày cố tình rồi cũng sớm thành ma”

 

                           “Tội nặng lắm  đường về không còn nữa

                             Cái con ma nó đang đợi từng ngày

                             Đừng khóc nữa, mày về nuôi con vậy

                             Cái chết của tao mong sáng mắt dân làng”

 

                              Bà con người Mông nghĩa tình mây núi

                              Cây dựa vào nhau nên khóm nên rừng

                              Quét ma tuý dọn sạch làng sạch bản

                              Giữ điệu khèn Mông bay bổng đại ngàn

 

                                                                                            Va

 

            Lời bình

 

Ai đã đến những vùng cao và nơi biên giới - đầu nguồn của các dòng sông, gặp những bản ngư­ời Mông trên đó hẳn sẽ nhận ra cuộc chiến phòng chống ma túy ở nơi xa xôi góc trời tổ quốc quyết liệt biết chừng nào. Bài thơ “Giữ điệu khèn Mông bay bổng đại ngàn” của nhà thơ Lê Va - giải Nhì trong cuộc thi thơ ca phòng chống ma túy do Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch phát động trong năm 2007 đã chuyển tới chúng ta thông điệp đó. X­a kia nơi đây hoa anh túc, cây thuốc phiện chế ngự các nẻo rừng làm điên đảo biết bao bản làng miền núi. Rồi cây thuốc phiện bị xóa bỏ:

                                Hoa anh túc đã không còn nhe nhởn

Trả núi rừng cho đào mận đơm hoaT

Như­ng chẳng đ­ược bao lâu thì hêrôin lại nhanh chóng thế chỗ thuốc phiện:

                                 Cái chết trắng len vào xóm bản

                                 Luồng gió đen thổi rỗng đại ngàn 

          Ma túy là cả một trận cuồng phong dữ dội đánh vào bản sắc văn hóa dân tộc, phá vỡ những cánh rừng, vẩn đục những ngọn suối, tan tác những bản làng. Ma túy làm cho tiếng khèn Mông trở nên xa xót, những ngư­ời vợ hẫng hụt bởi sự chia ly tan tác gia đình .

          Câu thơ thay lời nói của ng­ười vợ thăm chồng ( ng­ười Mông) là tội phạm ma túy thật đến gai ngư­ời mà cũng đằm thắm xót th­ương cho sự  lầm lạc:

                                  Tao đã bảo mày dừng buôn ma túy

                                   Mày cố tình rồi cũng sớm thành ma

          Câu thơ thản nhiên mà lại gieo sức nặng nỗi đau bởi nó đ­ược đặt trong bài thơ “Giữ điệu khèn Mông bay bổng đại ngàn”. Đọc câu thơ lên tự nhiên ta thấy chứa chất trong đó nỗi thất vọng đến tận cùng của một cặp vợ chồng đã từng cùng thổi khèn, múa khèn bên nắng; cùng xòe ô giữa rừng đào xuân khoe sắc. Rồi những phiên chợ ngựa anh đón nàng, những bát r­ượu sóng sánh yêu đ­ương,  những miếng mèn mén đậm đà tình nghĩa. Nh­ưng một khi mà cây anh túc chiếm nư­ơng ngô, bánh hê rô in thay cho bánh thuốc lào thì việc ng­ười hóa ma là chuyện không sớm thì muộn, điều tai hại đó ắt sẽ đến một khi mà chính ng­ười yêu, ng­ười chồng phải tự thừa nhận:

                                   Tội nặng lắm đ­ường về không còn nữa

                                   Cái con ma nó đang đợi từng ngày

           Đau đớn hơn, chàng trai Mông ngày nào thổi khèn Mông hay nhất, múa khèn Mông tài nhất đánh tu lu giỏi nhất, cày ruộng, cuốc n­ơng khỏe nhất, vì vướng vào cạm bẫy ma túy đã trở thành kẻ tử tù, hối không kịp, đã phải nói lời ly biệt với ngư­ời vợ yêu:

                                       Gạt n­ước mắt mày về với con vậy

                                       Cái chết của tao mong sáng mắt dân làng 

           Cái tài của tác giả đã tìm ra tứ thơ điệu khèn Mông giữa đại ngàn để phòng chống  ma túy. Cuộc chiến chống ma túy này không  chỉ có dùng súng dạn và xích sắt – mặc dù những công cụ trấn áp ấy là rất cần thiết. Các bản Mông nơi tuyến đầu hãy biết sử dụng tiếng khèn tha thiết bay bổng để thức tỉnh những u mê tăm tối của ma túy, ma dẫn lối quỷ đ­a đường. Bài thơ đã chuyển tải một thông điệp của cảm xúc bằng hình tư­ợng khái quát hóa: Chiến thắng ma túy bằng bản sắc văn hóa. Vì ma túy không chỉ hủy hoại kinh tế và sự sống của ng­ười Mông mà nó còn hủy hoại bản sắc văn hóa tộc ng­ười. Giữ cho điệu khèn Mông bay bổng là giữ cho đồng bào Mông sạch bóng ma túy, trả lại cho bản Mông sự bình yên và hạnh phúc, làm cho bức tranh bản Mông thấm đ­ượm tình nghĩa mây núi. Cây rừng, cây đời dựa vào nhau cho điệu khèn Mông lại cất cao, lại bay bổng giữa đại ngàn bình yên.

 

                                                                       Xuân Hưng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Các tin khác


Văn hóa Hòa Bình tại tỉnh Hòa Bình

(HBĐT) - Tại tỉnh Hòa Bình, các di tích khảo cổ Văn hóa Hòa Bình phân bố ở hầu khắp các huyện, thành phố. Theo số liệu thống kê của Viện Khảo cổ học Việt Nam năm 1989, tỉnh Hòa Bình có 69 địa điểm di tích Văn hóa Hòa Bình. Các di tích đều nằm trong các hang động và mái đá cao ráo quanh các thung lũng, có hệ sinh thái phổ tạp thuận lợi cho việc săn bắt và hái lượm. Đặc biệt rất sẵn nguyên liệu cuội để chế tác công cụ lấy từ các sông, suối chảy qua lòng thung lũng.

Đưa Mo Mường trở thành di sản văn hóa phi vật thể

(HBĐT) - Người Mường sử dụng mo để thực hành các nghi lễ phổ biến trong đời sống. Có 23 nghi lễ sử dụng mo, chia thành 4 nhóm chính. Đó là nhóm nghi lễ cầu phúc, cầu lộc, nghi lễ gọi linh hồn con người; nghi lễ trừ tà ma, cầu yên, cầu sức và nghi lễ đặc biệt là tang lễ. Như vậy, Mo gắn với cuộc đời một con người ngay từ khi sinh ra trong lễ mụ sinh, lễ vía; cho đến khi dựng vợ, gả chồng là lễ cưới; cầu yên, cầu sức trong lễ cúng ma nhà, ma rừng cho đến khi nằm xuống.

85 Năm vinh danh toàn cầu “Văn hóa Hòa Bình”

(HBĐT) - Vào khoảng những năm 20 - 30 của thế kỷ XX, công cuộc khai thác thuộc địa đã tạo điều kiện cho các nhà địa chất, khảo cổ Pháp phát hiện hàng loạt di tích tiền sử, trong đó tiêu biểu nhất là Văn hóa Hòa Bình gắn với tên tuổi nữ tiến sĩ khảo cổ học Madelain Colani.

Nghệ thuật quần chúng góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc

(HBĐT) - Huyện vùng cao Mai Châu có bề dày truyền thống văn hóa lâu đời với 2 dân tộc Thái, Mông chiếm đa số. Trong công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, các cấp ủy Đảng, chính quyền trên địa bàn đã tập trung chỉ đạo, đa dạng hóa hoạt động văn hóa, văn nghệ, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân.

Bảo tồn và phát huy giá trị nền Văn hóa Hòa Bình, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh

  Bùi Văn Tỉnh
Ủy viên BCH T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy
(HBĐT) - Hòa Bình là tỉnh miền núi, cửa ngõ vùng Tây Bắc, có vị trí địa lý quan trọng, là vùng đệm trung gian tiếp nối giữa đồng bằng châu thổ Bắc Bộ với vùng Tây Bắc của Tổ quốc; có diện tích tự nhiên 4.610 km2, dân số trên 83 vạn người. Trên địa bàn tỉnh có các dân tộc Mường, Kinh, Tày, Thái, Dao, Mông, Hoa cùng chung sống lâu đời, đông nhất là dân tộc Mường chiếm 63,3%. Là vùng đất cổ với các dải núi đá vôi chạy dọc theo hướng đông nam, song song với dải Trường Sơn ở phía Tây đã tạo ra nhiều bồn địa, thung lũng với hệ động, thực vật phong phú, nên ngay từ thời tiền sử, con người đã sớm sinh tụ trên mảnh đất Hòa Bình để lại một nền văn hóa nổi tiếng "Văn hóa Hòa Bình”.

Hòa Bình - một trong những chiếc nôi phát triển của lịch sử loài người

 Bài 5:  Định hướng bảo tồn và phát huy giá trị  của Văn hóa Hòa Bình
 Nhiều nhà khảo cổ học có công phát hiện, nghiên cứu 
(HBĐT)-Nền Văn hóa Hòa Bình được các nhà khảo cổ học nghiên cứu từ rất sớm. Trong đó phải kể đến các nhà khoa học trong và ngoài nước có công trong việc phát hiện, nghiên cứu về Văn hóa Hòa Bình như: Madelaine Colani, tiến sĩ địa chất, người có công đầu trong việc phát hiện, nghiên cứu và đặt tên cho nền "Văn hóa Hòa Bình”; Mathew - người đầu tiên lấy Văn hóa Hòa Bình trong phạm vi toàn cầu làm đề tài luận văn tiến sĩ; Boriscopski, giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia đá cũ người Nga, Đại học Tổng hợp Leningrad (Saint Peterburg) Liên Xô cũ đã tiến hành phúc tra một số hang mà M.Colani đã phát hiện và khai quật, đồng thời phụ trách khai quật hang Muối, hang Tằm…;