Ký-Phóng sự
“Cõng” chữ lên non
Cập nhật: Thứ tư, 18/11/2009 | 12:00:00 Sáng
 
Vượt qua bao khó khăn, thiếu thốn những giáo viên yêu nghề, quí trẻ vẫn miệt mài với con chữ vùng cao.
(HBĐT) - Giữa đêm hè 2007. Núi trở mình. Lũ đá. Từ đỉnh núi, đá lớn xô đá nhỏ ầm ầm lao xuống như một đàn trâu rừng lồng lên rượt đuổi nhau trong cơn cuồng nộ. Chỉ trong chớp mắt, ngổn ngang đất đá lấp kín sân trường Mầm non Đoàn Kết, xã Đoàn Kết, huyện Đà Bắc. Vài ngày sau, khi đất đá được dọn đi, trong các lớp học, tiếng trẻ cười nói, tiếng cô giáo giảng bài lại rộn rã vang lên giữa Tây Bắc đại ngàn…

 

“Em thương lũ trẻ như những đứa con của chính mình!”

 

Từ  ngã ba Ênh, chặng đường lên Đoàn Kết – xã vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện Đà Bắc như dài thêm ra sau mỗi con dốc, khúc cua. Đường lên cổng trời vắng vẻ, heo hút giữa một bên là rừng, một bên là vực. Có chặng dài đến 4 – 5 km nhưng mỏi mắt không tìm thấy một làn khói bếp. Thỉnh thoảng, nằm vắt ngang đường những xác rắn chết khô. Nếu không phải là dốc đá cao dựng đứng thì là sống trâu, đá hộc, hoặc ổ voi lầy lội, đường cứ thế trải ra, thách thức sức khoẻ, sự kiên trì và cẩn trọng của những ai muốn vượt qua.

Sau hơn 4 tiếng đồng hồ xuất phát từ trung tâm huyện Đà Bắc, hai cánh tay giờ đã tê mỏi, chúng tôi mới đến được trung tâm xã Đoàn Kết. Cơn lũ đá quét qua trường Mầm non Đoàn Kết đã được gần 2 năm, nhưng nét hốt hoảng thì vẫn còn vẹn nguyên trong ánh mắt những cô giáo nơi đây mỗi khi nhớ lại. Cô giáo hiệu trưởng Lường Thị Vượng kể lại: “Cơ sở vật chất của nhà trường bị thiệt hại nặng nề. Cổng và tường bao bị phá nát hết, đến nay vẫn chưa khắc phục được hoàn toàn. Nhìn cánh cổng sắt tan nát, méo mó được moi lên giữa bãi đá ai cũng rùng mình. Thật may là sau đó không có cô giáo nào vì sợ lũ đá mà bỏ trường.” Có lẽ, khi quyết tâm mang cái chữ lên đến vùng cao, trong hành trang của các thầy cô giáo không chỉ có lòng yêu trẻ, tình yêu nghề mà còn chất chứa ý chí kiên cường, sự dũng cảm và đức hi sinh.

Nơi nào có sự sống, nơi đó cần cái chữ. Cứ theo khói bếp, xuyên rừng sẽ tìm thấy lớp học và những người thầy vùng cao. Theo suy nghĩ giản đơn đó, chúng tôi đã quyết tâm đi bộ gần 10km đường rừng để đến thăm chi Thẩm Luông của trường Mầm non Đoàn Kết. Trong lớp học tranh tre, ghế bàn xiêu vẹo, cô giáo Phạm Thị Lý đang cặm cụi cầm tay, hướng dẫn từng em nhỏ những nét chữ đầu tiên. Sau hai năm được phân công phụ trách lớp 5 tuổi chi Thẩm Luông, nơi đây đang dần trở thành quê hương thứ hai của cô giáo Lý. Từ đây về đến nhà cô (xã Tu Lý, huyện Đà Bắc) chỉ khoảng 70km, nhưng đi mất tới nửa ngày trời, vì thế mà vài tuần cô mới về nhà một lần. Nếu mùa mưa bão, đường trơn lầy lội thì ở lại hàng tháng là chuyện bình thường. Căn phòng tập thể lụp xụp, tạm bợ, đồ đạc đơn sơ, bữa cơm chiều dọn ra mời khách đạm bạc với cá khô và măng luộc làm chúng tôi thấy se lòng. Nhưng, bất ngờ và xót xa hơn khi nghe cô "khoe": “Bắt đầu từ năm học 2009 – 2010, em được tăng lương lên 200.000 đồng/ tháng. Năm ngoái chỉ được 150.000 đồng thôi”. Số tiền lương đó có lẽ đủ để cô đong gạo ăn trong một tháng. Và… chỉ đủ để đong gạo mà thôi! “Ở quê, đi làm chổi chít cũng kiếm được 500.000 đồng – 700.000 đồng/ tháng mà lại gần gia đình, sao em không về mà lại bám trụ ở mảnh đất “khỉ ho cò gáy” này?”. Trả lời câu hỏi của chúng tôi, cô giáo Lý thủ thỉ: “Trẻ con ở đây ngoan và tội nghiệp lắm. Em thương lũ trẻ như những đứa con của mình. Bây giờ, em thấy mình đã thực sự gắn bó với mảnh đất nghèo khó này. Xa bọn trẻ thấy thương, thấy nhớ, nên em ở lại đây thôi.”

Cùng với cô Lý, còn có 8 cô giáo khác của trường Mầm non Đoàn Kết vẫn hàng ngày đều đặn lên lớp với mức lương 200.000 đồng/ tháng. Cô giáo hiệu trưởng nhà trường cho biết thêm: “Hồi mới tách trường năm 1995, lương giáo viên được nhà trường ký hợp đồng là 50.000 đồng/tháng. Thậm chí, có nhiều cô giáo đã qua đào tạo còn xin tình nguyện dạy không lương vì ngân sách xã eo hẹp, nhà trường không có khoản thu để chi trả”. Đồng lương quá thấp, giá cả nhu yếu phẩm lại cao gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi so với trung tâm huyện. Đời sống của giáo viên vùng cao vì thế mà cứ chất chồng thiếu thốn, khó khăn.  

Nặng lòng con chữ vùng cao

Sau một ngày dừng chân ở Đoàn Kết, chúng tôi tiếp tục men theo con đường ghập ghềnh để đến thăm các thầy cô giáo vùng cao Yên Hoà. Vô tình hỏi thăm cô gái trẻ đang đi xách nước đường đến trường THPT Yên Hoà mới biết cô chính là giáo viên của nhà trường. Cô giáo trẻ quê Hải Phòng cởi mở chia sẻ: “Đang là mùa khô nên chúng em phải lên mó nước trên núi xách nước không thì không có nước dùng. Mùa mưa có nước, nhưng nước không đảm bảo vệ sinh”. Theo cô, chúng tôi về đến khu tập thể của giáo viên nhà trường. Gọi là khu tập thể chứ thực ra đó là những phòng học cũ được ngăn ra thành từng ngăn nhỏ. Do giao thông đi lại khó khăn nên 100% giáo viên ở lại trường. Có đến 2/3 giáo viên nhà trường là người các tỉnh Yên Bái, Nam Định, Hải Phòng… lên đây công tác nên hàng tháng, thậm chí hàng năm các cô mới về thăm nhà. Thầy Bùi Minh Đức, Hiệu trưởng nhà trường tâm sự: “50% giáo viên nhà trường là giáo viên trẻ, chưa có gia đình. Trong khi đó, thông tin liên lạc hạn chế; đường xuống huyện khó đi và nguy hiểm. Những ngày mưa, cảm giác như bị cô lập giữa núi rừng. Nhưng  thương nhất, vất vả nhất là các cô giáo trẻ đi vận động học sinh bỏ học trở lại trường”. Năm học vừa qua, tỷ lệ học sinh bỏ học chiếm gần 10% vì một bộ phận nhân dân chưa tạo điều kiện cho con em đến trường, kinh tế gia đình các em quá khó khăn hoặc lực học quá yếu không tiếp thu được kiến thức… Để vận động các em đi học, cô giáo trẻ miền xuôi bắt đầu từ việc học tiếng dân tộc. Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình mỗi em rồi tất tả đi nhờ xe máy bà con trong bản hoặc đi bộ đến từng hộ dân để vận động các bậc phụ huynh cho con em đến trường. Thêm một em quay trở lại trường, cô giáo vùng cao lại được tiếp thêm động lực để mải miết leo ngược núi đón các em về trường.

Câu chuyện của chúng tôi và thầy hiệu trưởng bị ngắt quãng bởi tiếng trẻ nhỏ khóc vang lên từ gian tập thể bên cạnh. Trên tay cô giáo Hoàng Thị Thu Hà, đứa con thứ 2 vừa được 9 tháng tuổi sốt nóng bỏng như hòn than đang khóc ngằn ngặt. “Đứa đầu lòng được 4 tuổi thì anh chị phải gửi ở quê nhờ ông bà trông giúp, đứa thứ 2 còn bé nên ở trên này với bố mẹ. Cháu sốt cao quá, phải đưa xuống huyện. Chỗ nào đi xe máy được thì đi, không chị bế cháu đi bộ. Nhanh thì cũng phải 4, 5 tiếng mới đến được bệnh viện huyện”. Vừa nói, chị vừa lục tìm quần áo ấm mặc thêm cho cháu. Còn thầy giáo Hoàng Văn Huân, chồng chị vội vã sang phòng thầy hiệu trưởng xin nghỉ dạy cho hai vợ chồng rồi chạy đi mua xăng để chuẩn bị cho chặng đường xa xuống núi. “11 năm gắn bó với vùng cao, anh chị đã quen với cái khó, cái khổ nơi đây. Chỉ thương các cháu…”. Chị bỏ dở câu nói, ôm chặt đứa con vào lòng, rồi tất tả giục chồng đi mau kẻo trời tối. Nhìn theo bóng anh chị khuất dần sau màn sương mù mịt của núi rừng đầu đông, thắt lòng thương em bé phải chịu nhiều thiệt thòi vì cha mẹ bé đã trót nặng lòng với con chữ vùng cao. Thương lớp học vùng cao sớm mai ngẩn ngơ vì vắng thầy cô giáo…

Tháng 11. Những thửa ruộng bậc thang nứt nẻ, xác xơ gốc rạ. Trẻ em mảnh đất nghèo đến trường trong chiếc áo cũ mỏng manh.

Tháng 11. Bên trang giáo án của cô giáo vùng cao còn có thêm nhánh hoa đào rừng nở sớm. 

                                                          Dương Liễu                            

[Trở về]  |   In    
Các tin khác
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục
 
BÀI NHIỀU NGƯỜI ĐỌC
TIN VIDEO
TIÊU ĐIỂM
Quảng cáo
 

Nhiệt độ: 25-39°C

Nhiệt độ: 25-39°C

Nhiệt độ: 25-39°C
Tra cứu điện thoại VNPT
Chọn tỉnh
Nhập số
Mã vùng điện thoại
Mã vùng bưu chính
Số điện thoại đặc biệt
Số lượt truy cập
0051293455
Built by ICT Group