“Lỗ hổng” lớn về nhân lực và kinh phí
Theo ông Phạm Hữu Chiến, quản lý chất lượng VTNN&NLTS là lĩnh vực mới đối với tỉnh ta, trong đó xuất hiện hai lỗ hổng lớn về nhân lực và kinh phí, khiến hoạt động chưa thể đi vào nề nếp. Thách thức này đòi hỏi chính quyền các cấp và cơ quan quản lý chuyên ngành phải phối hợp hiệu quả mới có thể tìm ra những giải pháp thỏa đáng.
Qua thống kê sơ bộ của Phòng Quản lý chất lượng NLS&TS: Toàn tỉnh hiện có 264 cơ sở sản xuất chế biến lâm sản, 334 cơ sở kinh doanh VTNN, 378 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm, 40 cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản; hàng chục cơ sở thu mua và chế biến các loại nông sản như ngô, sắn, chè, rau quả, măng; 1.452 tàu thuyền đánh cá và 1.096 lồng cá; 76 chợ nông sản; 56 trang trại chăn nuôi quy mô lớn;... Chưa kể thành phần kinh tế hộ gia đình - đối tượng chiếm đa số, với bản chất đầu tư manh mún, hoạt động tự do và vì thế rất khó kiểm soát chất lượng sản phẩm. Trong khi đó, hệ thống tổ chức quản lý chất lượng NLS&TS của tỉnh ta chưa được kiện toàn, nguồn nhân lực thiếu về số lượng và yếu về năng lực thực thi. Cụ thể, tại cấp tỉnh có 1 phòng (phòng Quản lý chất lượng NLS&TS, mới ra đời từ tháng 4/2009) và 3 chi cục (Chi cục Bảo vệ thực vật, Lâm nghiệp, Thú y) được giao nhiệm vụ quản lý chất lượng liên quan tới VSATTP; tại cấp huyện, giao một phần cho phòng NN&PTNT, đội ngũ cán bộ ở đây hầu hết kiêm nhiệm và chưa được đào tạo, tập huấn chuyên ngành; tại cấp xã thậm chí còn chưa có lực lượng chuyên trách. Trong báo cáo kết quả quản lý chất lượng VSATTP giai đoạn 2004 – 2008, Sở NN&PTNT đã nhấn mạnh: Biên chế được giao chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao. Thực tế đang xuất hiện một “độ vênh” khá lớn về số lượng giữa một bên là đối tượng cần được quản lý (bao gồm hàng trăm doanh nghiệp, cơ sở, hàng nghìn hộ kinh tế cá thể có hoạt động liên quan) với một bên là đội ngũ cán bộ làm việc trong các cơ quan được giao chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực chất lượng VTNN&NLTS. Sự thiếu hụt về nhân lực dẫn đến một hệ quả tất yếu: tạo ra lỗ hổng lớn chi phối hiệu quả của công tác quản lý chuyên ngành.
Một vấn đề khiến ngành chức năng lúng túng, đó là thiếu kinh phí hoạt động. Hàng năm, ngay từ đầu năm Sở NN&PTNT đã xây dựng kế hoạch hoạt động kèm theo dự toán kinh phí, với mong muốn công tác quản lý chất lượng VSATTP trong nông nghiệp được triển khai chủ động và hiệu quả. Nhưng việc cấp kinh phí lại thất thường và không đáp ứng nhu cầu sử dụng. Ví dụ: năm 2004 không được cấp kinh phí, năm 2005 được cấp 20 triệu đồng, năm 2006 không được cấp, năm 2007 được cấp 83,161 triệu đồng, năm 2008 chưa được cấp... Lỗ hổng về kinh phí khiến việc kiểm nghiệm mẫu vật phẩm không thực hiện được theo kế hoạch của cơ quan quản lý, ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả thực chất của công tác thanh, kiểm tra và xử lý vi phạm. Thêm vào đó, Sở NN&PTNT mặc dù đã có Chi cục Thú y và Chi cục Bảo vệ thực vật được đầu tư phòng thí nghiệm chuyên ngành, nhưng vì trang thiết bị chưa đồng bộ, chưa có cán bộ chuyên trách nên chưa tự kiểm tra, kiểm nghiệm được các mẫu vật phẩm.
Không để “lực bất tòng tâm”
Định hướng cho các địa phương tăng cường năng lực quản lý chất lượng VTNN và đảm bảo an toàn vệ sinh nông sản thực phẩm, Bộ NN&PTNT đã nêu rõ quan điểm: Quản lý chất lượng NLTS phải thực hiện theo nguyên tắc kiểm soát toàn bộ quá trình “từ trang trại tới bàn ăn”, kiểm soát chặt chẽ công đoạn có nguy cơ, nguy cơ cao trong toàn bộ quy trình sản xuất và cung cấp nông lâm thuỷ sản. Giải pháp đặt ra là đẩy mạnh phân cấp trong hệ thống cơ quan quản lý chuyên ngành, nâng cao vai trò quản lý cấp địa phương, tăng cường hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong toàn bộ quá trình cung ứng thực phẩm NLTS.
Bám sát định hướng trên, tháng 4/2009, Sở NN&PTNT đã sắp xếp tổ chức lại bộ máy nhân sự nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động và hiệu lực quản lý cho các phòng chuyên môn. Theo đó, quyết định đổi Phòng Kỹ thuật thành Phòng Quản lý chất lượng NLS&TS. Với tư cách vừa là phòng chuyên môn thuộc Sở vừa là Thường trực Hội đồng khoa học của ngành, phòng thực hiện chức năng tham mưu giúp Giám đốc Sở quản lý nhà nước về lĩnh vực chất lượng NLS&TS, tập trung mạnh vào việc quản lý chất lượng nông sản thực phẩm từ khâu sản xuất đến khâu chế biến thay vì chỉ quản lý chất lượng giống và VTNN như phòng Kỹ thuật trước đây. Động thái này giúp phạm vi hoạt động và lĩnh vực quản lý của phòng thay đổi theo hướng mở rộng và chuyên sâu hơn, chứng tỏ cơ quan quản lý chuyên ngành đã chú trọng nhiều hơn đến công tác quản lý chất lượng.
Ông Phạm Hữu Chiến trao đổi: Đó là bước đi cần thiết nhưng chưa thực sự thoả đáng để có thể vượt qua những thách thức trong vấn đề VSATTP ngành nông nghiệp. Thực tế yêu cầu một bước đi dài và thiết thực hơn. Chính vì vậy, mới đây Sở NN&PTNT đã có tờ trình thành lập Chi cục Quản lý chất lượng VTNN&NLTS theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 31/2009 của Bộ NN&PTNT và Bộ Nội vụ. Sự ra đời của Chi cục cùng với những thay đổi căn cơ về nhân lực, chế tài, kinh phí hoạt động được kỳ vọng sẽ như một “cây gậy pháp lý” hỗ trợ đắc lực cho cơ quan quản lý chuyên ngành, tăng cường năng lực thực thi pháp luật cho hệ thống tổ chức quản lý chất lượng NLS&TS từ cấp tỉnh đến cấp xã.
Thu Trang