(HBĐT) - Sinh ra trong một gia đình bần nông ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, Cù Chính Lan sớm tham gia cách mạng. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu, anh là thế hệ thanh niên đầu tiên trong xã tình nguyện nhập ngũ lên đường giết giặc.

 

Giang Mỗ - trận chiến oanh liệt

 

Sinh ra trong một gia đình bần nông ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, Cù Chính Lan sớm tham gia cách mạng. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu, anh là thế hệ thanh niên đầu tiên trong xã tình nguyện nhập ngũ lên đường giết giặc.

 

 

Tân binh xã Bình Thanh (Cao Phong) tại Tượng đài Anh hùng Cù Chính Lan trước khi lên đường nhập ngũ năm 2017.

 

Tháng 11/1951, thực dân Pháp mở rộng cuộc tấn công ra vùng tự do ở Hòa Bình với âm mưu nối lại “Hành lang Đông - Tây” nhằm cắt đứt liên lạc của ta giữa Việt Bắc và khu 3, khu 4 để giành lại quyền chủ động trên chiến trường chính. ở Hòa Bình chúng thực hiện âm mưu thành lập “Xứ Mường tự trị” để phá hoại khối đoàn kết dân tộc. Trước tình hình đó Trung ương Đảng chỉ thị đánh địch trên cả hai mặt trận là Hòa Bình và sau lưng địch là đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 24/11/1951 Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình.

 

 Trong trận Giang Mỗ lần thứ nhất, ngày 7/12/1951, khi bố trí trận địa bị lộ, địch bắn dữ dội, ta tạm thời rút lui. Trận Giang Mỗ lần thứ hai, ngày 13/12/1951, địch lọt vào trận địa, cả đơn vị nổ súng quyết liệt, diệt gọn một đại đội địch. Lúc chuẩn bị rút thì xe tăng địch tiếp viện tới bắn dữ dội vào đội hình ta, chặn đường rút và làm nhiều anh em thương vong. Cù Chính Lan xông lên, anh nhảy lên xe tăng quăng lựu đạn vào trong xe, giặc nhặt lựu đạn ném ra và hốt hoảng lái xe tăng chuyển hướng. Thời cơ diệt xe tăng địch ngay trước mắt, Cù Chính Lan dũng cảm, táo bạo mở chốt lựu đạn ném vào buồng lái, lựu đạn nổ, những tên giặc trong xe chết đè lên nhau, chiếc xe dừng lại tại chỗ, trận đánh kết thúc thắng lợi. Đây chiếc xe tăng do Mỹ sản xuất mang số hiệu “B2885498 USA”.

 

Trong trận thắng oanh liệt tại dốc Giang Mỗ, với tinh thần anh dũng tuyệt vời, Anh hùng Cù Chính Lan và các chiến sĩ Tiểu đoàn 353, Trung đoàn 66 đã diệt xe tăng của thực dân Pháp do Mỹ trang bị, mở đầu phong trào đánh xe tăng - phương tiện chiến đấu hiện đại của địch bằng vũ khí thông thường. Với chiến công này, anh được Bộ Tổng Tư lệnh tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba với danh hiệu Anh hùng đánh xe tăng. Danh tiếng “Anh hùng đường số 6” lẫy lừng từ đấy. ở khắp nơi trong toàn quân, mọi người đều học tập và noi gương Cù Chính Lan, một “Phong trào Cù Chính Lan” được phát động. Sau đó ít ngày, ngày 29/12/1951, Cù Chính Lan tham gia trận đánh tiêu diệt đồn Cô Tô. Mặc dù bị thương rất nặng nhưng anh vẫn không rời trận địa, tiếp tục chỉ huy tiểu đội liên tiếp phá 5 hàng rào dây thép gai vào lô cốt địch. Khi đồn chính bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn cũng là lúc đồng chí trút hơi thở cuối cùng. Năm đó, anh vừa tròn 20 tuổi, là tiểu đội trưởng bộ binh, Đại đoàn 304, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Cù Chính Lan là một hình ảnh sáng ngời của người chiến sĩ thi đua ái quốc. Ngày 19/5/1952, liệt sĩ Cù Chính Lan là 1 trong 7 người đầu tiên trên toàn quốc được Đảng và Chính phủ truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

 

Cuộc sống mới trên chiến trường xưa

 

Trong không khí kỷ niệm 65 năm giải phóng Hoà Bình, chúng tôi đã về nơi là chiến trường xưa. Từ ngã ba dốc Cun (thành phố Hoà Bình) rẽ vào đường Tây Tiến - quốc lộ 6 cũ đi chừng 6 km theo con đường uốn lượn sẽ gặp Tượng đài Anh hùng Cù Chính Lan được xây dựng ngay cạnh đường, trong tư thế hiên ngang, bất khuất trên nền trời cao xanh vời vợi. Công trình được xây dựng để ghi nhớ công ơn của người anh hùng trẻ tuổi, ghi dấu chiến công diệt xe tăng của Anh hùng Cù Chính Lan, được công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia năm 1993. Qua tìm hiểu, thực tế Đài tưởng niệm được xây dựng từ năm 1994 tại dốc Giang Mỗ, nơi Anh hùng Cù Chính Lan đã tiêu diệt chiếc xe tăng của địch. Nhưng vì di tích được xây dựng trong không gian, địa thế hẹp, trải qua thời gian, công trình xuống cấp. Năm 2008, Đài tưởng niệm được di dời về cơ sở mới khang trang hơn tại xóm Mỗ I, xã Bình Thanh (Cao Phong). Công  trình được xây dựng trên tổng diện tích 3.638 m2. Tượng và bệ tượng được chế tác từ nguồn nguyên liệu đá xanh Thanh Hóa có chiều cao 8,5 m, tổng thể tích 160,4 m3.

 

Đồng chí Nguyễn Văn Thưởng, Chủ tịch UBND xã Bình Thanh cho biết: Từ khi công trình được khánh thành và đưa vào sử dụng đã trở thành không gian giáo dục truyền thống lịch sử quê hương, chiến tranh cách mạng, mỗi người dân trong xã đều có ý thức trân trọng, giữ gìn, bảo vệ di tích.

 

Bí thư Đoàn Thanh niên xã Đinh Thị Ngọc Bé chia sẻ: Tượng đài ghi dấu chiến công của Anh hùng Cù Chính Lan chiến đấu chống quân xâm lược trên quê hương Hoà Bình hết sức có ý nghĩa trong việc giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, là nơi phát động các phong trào. Từ đó, lớp lớp ĐV-TN, học sinh trong xã noi gương anh ra sức học tập, rèn luyện, cống hiến để góp phần xây dựng quê hương ngày càng đổi mới. Đoàn Thanh niên xã thường xuyên phối hợp với các trường học trên địa bàn tổ chức dọn dẹp vệ sinh, bảo vệ cảnh quan, môi trường khu di tích luôn được phong quang, sạch đẹp.

 

Đồng chí Nguyễn Văn Thưởng, Chủ tịch UBND xã cho biết thêm: Với điều kiện kinh tế chính là sản xuất nông - lâm nghiệp, xã chủ trương khai thác hiệu quả lợi thế địa phương, tuyên truyền, vận động nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Những năm gần đây, nhân dân đầu tư trồng cây có múi như cam, bưởi với diện tích gần 50 ha, phát triển chăn nuôi dê bước đầu cho hiệu quả kinh tế khá, từ mô hình cây ăn quả có hộ cho thu nhập 1 tỷ đồng/năm. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, con em đến tuổi đi học đều được đến trường. 100% hộ được dùng điện, nước hợp vệ sinh. 98% hộ tham gia BHYT. Năm 2016, thu nhập bình quân đầu người toàn xã đạt 19,9 triệu đồng, số hộ nghèo giảm còn 12,27%.

 

 

                                                                 Hà Thu

 

 

Các tin khác


Bài 3: Đặc quyền của lang - đạo và quyền tối thượng đề ra luật lệ, thâu tóm tư liệu sản xuất


(HBĐT) -Trên thực tế, lang - đạo nhất là lang kun chúa đất có những đặc quyền như sau:

Dấu ấn Bác Hồ về thăm Hòa Bình qua những tài liệu, hiện vật lịch sử

(HBĐT) - Chúng tôi có mặt tại buổi khai trương phòng trưng bày chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với tỉnh Hòa Bình” của Bảo tàng tỉnh vào những ngày cả nước có nhiều hoạt động chào mừng kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và tròn 70 năm ngày Bác lần đầu tiên về thăm tỉnh Hòa Bình (1947- 2017). Đây chính là hoạt động có ý nghĩa để tri ân và tưởng nhớ công ơn to lớn cùng những điều dạy bảo quý báu của Người đối với tỉnh ta.

 Bài 2: Nhận diện lang - đạo

(HBĐT) - Nhìn chung, các sử gia, học giả đều có chung nhận định rằng chế độ lang - đạo của người Mường phát triển cực thịnh vào thời Lê và bị đàn áp suy yếu sau cuộc khởi nghĩa Lê Duy Lương. Vua Minh Mạng (trị vì 1820 - 1841) đã có những cải cách quan trọng như: Chia lại các châu, mường ở miền núi, tước bỏ quyền thế tập cha truyền con nối, tước bỏ các đặc quyền của các tù trưởng ở miền núi, trong đó có lang - đạo ở vùng Mường. Tuy vậy, chế độ lang - đạo vẫn dai dẳng tồn tại và chỉ bị đánh đổ khi cách mạng tháng 8 - 1945 thành công, chế độ mới được thiết lập.

Tìm hiểu về nhà lang trong xã hội cổ truyền Mường

(HBĐT) - Theo quan điểm chung của giới nghiên cứu cho thấy, chế độ lang - đạo ra đời trong xã hội Mường từ giai đoạn đồ đồng chuyển sang giai đoạn đồ sắt, tương ứng giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Nhờ có công cụ bằng kim khí nên năng suất lao động tăng cao, của cải trong xã hội dồi dào hơn trước. Hình thức sở hữu tư nhân chiếm ưu thế tuyệt đối, xã hội phân chia giai cấp diễn ra mạnh mẽ. Giai đoạn đầu khi mới hình thành, chế độ lang - đạo còn gần gũi với nhân dân, đóng vai trò như là tù trưởng, thủ lĩnh, phù hợp với trình độ sản xuất, quản lý xã hội khi đó. Trải qua hàng trăm năm, chế độ lang - đạo tập trung cho mình quyền tuyệt đối về sở hữu tư liệu sản xuất, thậm chí cả người dân của mình, dẫn đến độc quyền trong phân phối sản phẩm, độc quyền trong việc đề ra các luật lệ. Dân Mường phải lệ thuộc và trở thành nông nô, lao động cho các nhà lang. Chế độ này dần thoái hóa, trở nên cực kỳ bảo thủ, phản động cản trở bước tiến của xã hội và dần trở nên mâu thuẫn, đối lập sinh tử với dân Mường và bị đánh đổ trong cách mạng tháng 8/1945. Loạt bài viết này xin lược giới thiệu về nhà lang và chế độ nhà lang nhằm cung cấp cho bạn đọc cái nhìn tuy sơ lược nhưng toàn về chế độ này trong xã hội Mường trước tháng 8/1945.

Chuyện kể về anh hùng Bùi Văn Hợp

(HBĐT) - Con đường bê tông rợp bóng tre đưa chúng tôi đến ngôi nhà nhỏ tại xóm Chiềng 1, xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi - nơi anh hùng Bùi Văn Hợp sinh ra và lớn lên. Kín những khoảng tường trong ngôi nhà nhỏ là rất nhiều giấy khen, huân, huy chương. 45 năm sau ngày anh ngã xuống, câu chuyện về anh vẫn có sức sống mãnh liệt, là niềm tự hào của mảnh đất Mường Động anh hùng.

Truyền thống “ đi trước mở đường” tiếp bước tương lai

(HBĐT) - Địa bàn tỉnh là đầu mối giao thông tỏa đia mọi miền đất nước có tầm đặc biệt quan trọng trong thời chiến tranh. Quốc lộ 6 nối liền Thủ đô với các tỉnh đồng bằng qua miền Trung du lên Tây Bắc, sang Lào, vào các tỉnh khu 4, đến chiến trường miền Nam. Trục đường 6 nối liền quốc lộ 21A, 12A, 21B, quốc lộ 15, tất cả hình thành hệ thống GTVT liên hoàn. Trên các tuyến có 5 bến phà là: Bờ, Rút, Thia, Vụ Bản, Chi Nê. Trên các tuyến giao thông có các cầu, cống lớn, nhiều nhịp, khẩu độ hàng chục mét, có nhiều đoạn qua đèo hiểm trở bên núi, bên sông như dốc Chó Treo, đèo Hút Gió…Đó là những trọng điểm xung yếu được xác định là “yết hầu” của tuyến giao thông trên địa bàn, cũng là trọng điểm đánh phá liên tục của giặc Mỹ trong chiến tranh.