(HBĐT) - Chúng tôi có mặt tại buổi khai trương phòng trưng bày chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với tỉnh Hòa Bình” của Bảo tàng tỉnh vào những ngày cả nước có nhiều hoạt động chào mừng kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và tròn 70 năm ngày Bác lần đầu tiên về thăm tỉnh Hòa Bình (1947- 2017). Đây chính là hoạt động có ý nghĩa để tri ân và tưởng nhớ công ơn to lớn cùng những điều dạy bảo quý báu của Người đối với tỉnh ta.

Học sinh trường THPT Công Nghiệp (TP Hòa Bình) thăm Phòng trưng bày chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với tỉnh Hòa Bình” tại Bảo tàng tỉnh.

 

Theo lời thuyết minh của cán bộ Bảo tàng tỉnh, chúng tôi và đông đảo đại biểu, giáo viên, học sinh được tìm hiểu những lần Bác Hồ về thăm tỉnh Hòa Bình qua những bức ảnh, hiện vật được trưng bày. Phòng trưng bày được chia thành hai chủ đề chính. Chủ đề thứ nhất “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Hòa Bình - Hòa Bình với Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1945 – 1954”. Địa điểm đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm là đồn điền Chi Nê (nay thuộc xã Cố Nghĩa, Lạc Thủy) vào ngày 21/2/1947. Ngoài những chuyến thăm, giai đoạn này, những lá thư thăm hỏi, khen ngợi, những chiếc áo ấm đậm đà tình cảm được Bác gửi tới những chiến sĩ yêu nước cũng như  tầng lớp trên trong những năm tháng khó khăn của Hoà Bình như ông Đinh Công Phủ, Đinh Công Huy, Đinh Công Niết… đã thu phục được họ ủng hộ và tham gia tích cực vào công cuộc kháng chiến. Tại phòng trưng bày còn có những lá thư Bác đã khen ngợi chị Nguyễn Thị Hợi (tức Minh Tâm) ở châu Mai Đà là “Cán bộ kiểu mẫu đã tổ chức dân chống giặc lập lại và giữ vững chính quyền nhân dân ở địa phương” ngày 29/1/1948. Chị Nguyễn Thị Vuông ở xã Hợp Thành (Kỳ Sơn) là du kích chiến đấu dũng cảm đã vinh dự được gặp Bác ở chiến khu Việt Bắc. Anh Nguyễn Phi Hùng, chiến sĩ công an được Bác khen thưởng và tặng huy hiệu… Những bức thư tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng đầy cảm xúc không chỉ là những lời thăm hỏi ân cần, tình thương yêu rất mực chân thành, sự cảm thông chia sẻ, khích lệ động viên của Bác đối với đồng bào và cán bộ tỉnh Hòa Bình mà còn là lời căn dặn ân tình của Người với những việc làm, yêu cầu rất cụ thể. 

Chủ đề thứ hai được trưng bày là “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Hòa Bình trong công cuộc xây dựng CNXH giai đoạn 1954 - 1969”. Chúng tôi được xem những bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến  thăm trường Hợp tác hóa nông nghiệp của tỉnh ở Bến Ngọc, Kỳ Sơn ngày 19/10/1958. Tại đây, Bác đã nói chuyện với trên 300 cán bộ, bộ đội và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình. Trên đường công tác trở về, Bác đã ghé thăm Tập đoàn sản xuất Chí Hòa thuộc Liên đoàn sản xuất Cửu Long của cán bộ miền Nam tập kết đóng ở xóm Dốc Phấn, xã Lâm Sơn, huyện Lương Sơn. Tiếp theo, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và làm việc tại trường Thanh niên lao động XHCN ngày 17/8/1962. Sau khi đi thăm cơ sở vật chất của nhà trường, Bác Hồ đã có buổi nói chuyện với trên 400 cán bộ lãnh đạo tỉnh, huyện, xã và hơn 1.200 cán bộ, giáo viên, học sinh nhà trường. Cuốn sổ vàng của nhà trường vẫn còn in đậm bút tích của Người với lời dạy: “Phải: Học tập tốt, lao động tốt; cố gắng mãi, tiến bộ mãi”. Trong chuyến thăm này, thấy dòng Sông Đà hung dữ nhiều thác ghềnh, Bác đã nói: Phải biến “thủy tặc” thành “thủy lợi”.  

Đến với Hòa Bình lần thứ tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và làm việc tại cơ quan Huyện ủy Kim Bôi ngày 19/9/1964.  Cùng đông đảo học sinh có mặt tại phòng trưng bày, Bùi Bảo Lộc, học sinh lớp 10 C1, trường THPT Công Nghiệp chia sẻ: Cháu vinh dự được nhà trường cho đi dự lễ khai trương Phòng trưng bày chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với tỉnh Hòa Bình” tại Bảo tàng tỉnh, cháu  rất xúc động. Mặc dù được học những kiến thức về Bác trên ghế nhà trường nhưng hôm nay được nhìn những bức ảnh, hiện vật về Bác Hồ, nhất là những tình cảm của Bác với tỉnh ta, cháu thấy hình ảnh của Bác thật giản dị, gần gũi và càng thêm yêu quý Bác hơn… 

Cô giáo Phạm Thị Bích Ngọc, giáo viên môn lịch sử, trường THPT Công Nghiệp cho biết: Chúng tôi được nhà trường tạo điều kiện cho cô và trò 2 lớp 10 C1 và 11 C2 đi thăm Bảo tàng tỉnh. Chúng tôi thật sự thấy rất bổ ích và ý nghĩa. Qua hiện vật lịch sử, học sinh có thêm những hiểu biết về Bác đối với tỉnh Hòa Bình. Thấy được những hình ảnh Bác về thăm, bút tích, bức thư của Bác gửi động viên cán bộ, quân và dân Hòa Bình. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi - những giáo viên dạy lịch sử trong quá trình giảng dạy các em có những kiến thức lịch sử địa phương cụ thể và thuyết phục hơn. Đây sẽ là những tiền đề để thế hệ mai sau thêm tự hào, tiếp tục phát huy truyền thống của cha ông trong sự nghiệp đổi mới…  

Đồng chí Nguyễn Thị Thi, Giám đốc Bảo tàng tỉnh khẳng định: Đợt trưng bày này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thông qua các tài liệu, hiện vật là chứng minh, góp phần làm sáng tỏ hơn tình cảm, sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh ta. Tôn vinh và lưu giữ các kỷ vật, tư liệu lịch sử vô cùng quý giá của Hồ Chủ tịch đối với tỉnh, góp phần cung cấp tư liệu lịch sử khoa học cho công tác nghiên cứu lịch sử cách mạng của tỉnh. Qua đây cũng khơi dậy lòng tự hào, cổ vũ, động viên thế hệ trẻ phát huy truyền thống cách mạng. Tuy vậy, để có được trên 100 tài liệu hiện vật ở Phòng trưng bày không phải là dễ. Vì những tài liệu hiện vật này còn rất ít, bởi thời điểm Bác đến thăm tỉnh ta là thời kỳ chiến tranh, nhiều cuộc Bác đi rất nhanh, về rất nhanh. Sau thời gian sưu tầm, nghiên cứu, Bảo tàng tỉnh xây dựng đề cương trưng bày thành 2 chủ đề lớn. Tại 5 địa phương 4 lần Bác Hồ về thăm đã có 4 địa phương được cấp di tích cấp quốc gia đã có hồ sơ di tích. Bảo tàng tỉnh liên hệ với Bảo tàng Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và gia đình ông Bùi Thiện… để cung cấp thêm những tư liệu, hiện vật quý giá về Bác với tỉnh Hòa Bình. Những lần Bác về thăm Hòa Bình còn khắc sâu trong trí nhớ biết bao người. Mỗi địa danh trên quê hương Hòa Bình, nơi Người đặt chân đến đều trở thành những địa chỉ đỏ cách mạng.  

70 năm kể từ lần đầu tiên Bác đến Hòa Bình, khắc ghi lời Bác dạy, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình phát huy truyền thống đoàn kết, tích cực vượt qua mọi khó khăn, xây dựng quê hương ngày càng đổi mới.

 

                                                                    Hương Lan 

Các tin khác


 Bài 2: Nhận diện lang - đạo

(HBĐT) - Nhìn chung, các sử gia, học giả đều có chung nhận định rằng chế độ lang - đạo của người Mường phát triển cực thịnh vào thời Lê và bị đàn áp suy yếu sau cuộc khởi nghĩa Lê Duy Lương. Vua Minh Mạng (trị vì 1820 - 1841) đã có những cải cách quan trọng như: Chia lại các châu, mường ở miền núi, tước bỏ quyền thế tập cha truyền con nối, tước bỏ các đặc quyền của các tù trưởng ở miền núi, trong đó có lang - đạo ở vùng Mường. Tuy vậy, chế độ lang - đạo vẫn dai dẳng tồn tại và chỉ bị đánh đổ khi cách mạng tháng 8 - 1945 thành công, chế độ mới được thiết lập.

Tìm hiểu về nhà lang trong xã hội cổ truyền Mường

(HBĐT) - Theo quan điểm chung của giới nghiên cứu cho thấy, chế độ lang - đạo ra đời trong xã hội Mường từ giai đoạn đồ đồng chuyển sang giai đoạn đồ sắt, tương ứng giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Nhờ có công cụ bằng kim khí nên năng suất lao động tăng cao, của cải trong xã hội dồi dào hơn trước. Hình thức sở hữu tư nhân chiếm ưu thế tuyệt đối, xã hội phân chia giai cấp diễn ra mạnh mẽ. Giai đoạn đầu khi mới hình thành, chế độ lang - đạo còn gần gũi với nhân dân, đóng vai trò như là tù trưởng, thủ lĩnh, phù hợp với trình độ sản xuất, quản lý xã hội khi đó. Trải qua hàng trăm năm, chế độ lang - đạo tập trung cho mình quyền tuyệt đối về sở hữu tư liệu sản xuất, thậm chí cả người dân của mình, dẫn đến độc quyền trong phân phối sản phẩm, độc quyền trong việc đề ra các luật lệ. Dân Mường phải lệ thuộc và trở thành nông nô, lao động cho các nhà lang. Chế độ này dần thoái hóa, trở nên cực kỳ bảo thủ, phản động cản trở bước tiến của xã hội và dần trở nên mâu thuẫn, đối lập sinh tử với dân Mường và bị đánh đổ trong cách mạng tháng 8/1945. Loạt bài viết này xin lược giới thiệu về nhà lang và chế độ nhà lang nhằm cung cấp cho bạn đọc cái nhìn tuy sơ lược nhưng toàn về chế độ này trong xã hội Mường trước tháng 8/1945.

Chuyện kể về anh hùng Bùi Văn Hợp

(HBĐT) - Con đường bê tông rợp bóng tre đưa chúng tôi đến ngôi nhà nhỏ tại xóm Chiềng 1, xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi - nơi anh hùng Bùi Văn Hợp sinh ra và lớn lên. Kín những khoảng tường trong ngôi nhà nhỏ là rất nhiều giấy khen, huân, huy chương. 45 năm sau ngày anh ngã xuống, câu chuyện về anh vẫn có sức sống mãnh liệt, là niềm tự hào của mảnh đất Mường Động anh hùng.

Truyền thống “ đi trước mở đường” tiếp bước tương lai

(HBĐT) - Địa bàn tỉnh là đầu mối giao thông tỏa đia mọi miền đất nước có tầm đặc biệt quan trọng trong thời chiến tranh. Quốc lộ 6 nối liền Thủ đô với các tỉnh đồng bằng qua miền Trung du lên Tây Bắc, sang Lào, vào các tỉnh khu 4, đến chiến trường miền Nam. Trục đường 6 nối liền quốc lộ 21A, 12A, 21B, quốc lộ 15, tất cả hình thành hệ thống GTVT liên hoàn. Trên các tuyến có 5 bến phà là: Bờ, Rút, Thia, Vụ Bản, Chi Nê. Trên các tuyến giao thông có các cầu, cống lớn, nhiều nhịp, khẩu độ hàng chục mét, có nhiều đoạn qua đèo hiểm trở bên núi, bên sông như dốc Chó Treo, đèo Hút Gió…Đó là những trọng điểm xung yếu được xác định là “yết hầu” của tuyến giao thông trên địa bàn, cũng là trọng điểm đánh phá liên tục của giặc Mỹ trong chiến tranh.

Xã Thu Phong âm vang chiến công bắn rơi máy bay Mỹ

(HBĐT)- Mảnh đất anh hùng Thu Phong (Cao Phong) đang từng ngày đổi thay. Thu Phong phủ một màu xanh bạt ngàn của những đồi cam. Trái cam vàng đã đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc nhưng trong tiềm thức của người dân nơi đây luôn âm vang chiến công oanh liệt dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ ngày 20/7/1966 của 5 dân quân xã Thu Phong.

Nhìn lại đôi nét lịch sử huyện Lạc Sơn, văn hóa Mường qua một bộ sưu tập ảnh quý

(HBĐT) - Hiện nay, tại làng Chiềng Vang ở huyện Lạc Sơn, trong gia đình ông Quách Phẩm còn lưu giữ hơn 100 bức ảnh đen trắng được chụp từ những năm 1930 - 1940 của thế kỷ XX, có giá trị về nhiều mặt. Qua thông tin các bức ảnh có thể cho ta thấy được phần nào về văn hóa, đời sống của người Mường trong thời Pháp thuộc. Trải qua nhiều thăng trầm của thời cuộc, lịch sử tác động đến gia đình cộng với sự dịch chuyển nhiều lần, qua tay nhiều người, chất liệu ảnh cơ bản in trên giấy nên nhiều ảnh đã phai, ố, bong tróc, tuy nhiên có nhiều bức ảnh còn giữ được những nét cơ bản dễ nhận biết.