Trang phục của người phụ nữ Dao Tiền

Trang phục của người phụ nữ Dao Tiền

(HBĐT) - Đồng bào Dao chiếm một bộ phận trong cộng đồng dân tộc của tỉnh ta, phân bố hầu hết ở các huyện, thành phố, nhưng tập trung nhiều ở các vùng núi thuộc huyện Kim Bôi, Đà Bắc.

 

Người Dao ở tỉnh ta có 2 nhánh: Dao Tiền và Dao quần chẹt. Trang phục của người Dao mang một nét độc đáo riêng có và là sản phẩm từ thiên nhiên do những người phụ nữ tạo ra trong cuộc sống hàng ngày. HBĐT xin giới thiệu với bạn đọc một số nét độc đáo trong trang phục của phụ nữ Dao Tiền đang sinh sống ở tỉnh ta.

 

Áo:  May dài đến ngang mông, cổ thấp, xẻ ngực, khi mặc vắt chéo hai vạt trước chồng lên nhau, không cài khuy, Vạt ngoài một đầu hếch lên, một đầu nhọn thả xuống. Vạt trong ngắn hơn, để hở ra một góc nhỏ ở phía dưới về bên hông phải. Tay áo dài tới cổ tay, ống tay áo có một đường viền màu trắng nhỏ. Sau lưng áo có sáu đồng tiền nối với nhau bằng một sợi chỉ đỏ thành những dây từ cổ áo buông xuống sau lưng. Áo có các màu đen, đỏ, trắng tạo tương phản rất ấn tượng. Phụ nữ Dao tiền khi mặc áo thường thắt ngang lưng một dải khăn nhỏ.             

 

Khăn thắt lưng: Có nhiều loại. Loại màu đỏ rộng 8 cm, thắt vòng quanh eo, thả xuôi xuống trước bụng độ 15 cm, đuôi khăn là những sợi chỉ đỏ, xen kẽ với chỉ trắng. Loại màu trắng và in hoa cũng có quy cách và sử dụng như loại khăn màu đỏ .                                                                     

 

Khăn đội đầu thường ngày:  Màu đen, làm bằng vải thô nhuộm chàm. Khăn rộng khoảng 30 cm, dài từ 1,5 m đến 2 m. Phần giữa của khăn chiếm tới 80%  là màu đen, hai đầu khăn thêu hoa và đính hạt cườm màu sắc sặc sỡ. Khi đội khăn, hai đuôi tai khăn vắt chéo qua trán, kín gáy và gần kín hai tai, tạo thành hai mũi nhọn nhỏ ở hai bên thái dương và một hình chữ bát ở trước trán, hai đuôi khăn buông xuống sau lưng.                                                           

 

Khăn đội đầu ngày lễ:  Làm bằng vải thô hoặc  nhiễu được may và thêu công phu, phong phú về hoa văn hoạ tiết và đẹp hơn khăn đội đầu thường nhiều ngày. Mỗi đầu khăn dài khoảng 40cm, có trang trí một đường bằng vải đỏ rộng khoảng 4 - 5 cm bao quanh. Liền kề đường vải đỏ là những đường chỉ to bằng ngón tay màu trắng và màu đen.  Hoạ tiết, hoa văn thêu trên khăn là các hình ngũ giác, 36 loại hoa và những hạt cườm. Trên khăn có đính một hàng đều nhau những đồng bạc trắng.                                                   

 

Chiếc túi lưới:  Phụ nữ người Dao thường đeo sau lưng chiếc túi lưới khi đi làm, đi chợ và cả khi đi chơi. Chiếc túi lưới vừa để đựng đồ dùng vừa làm vật  trang trí cùng với bộ trang phục. Túi lưới được làm bằng sợi gai hoặc sợi tơ tằm, đan hình mắt cáo. Túi nhỏ, đường kính của miệng túi khoảng 40 cm, xung quanh miệng túi có đính nhiều chiếc vòng nhỏ làm bằng sợi mây sút chầm) để xỏ dây cáo buộc miệng túi. Sát trên miệng túi có đính các hàng hạt cườm màu trắng hoặc xanh.

  

Vò ng cổ, vòng cổ tay:   Phụ nữ người Dao Tiền rất thích đeo nhiều vòng cổ và vòng đeo cổ tay. Bên cạnh những chiếc vòng bạc, chị em còn thích đeo nhiều vòng bằng các sợi chỉ màu đỏ, xanh. Những vòng bằng những sợi chỉ thường đeo trễ xuống ngang bụng. Mỗi người đeo ít nhất từ 2 đến 5 chiếc vòng cổ và vòng cổ tay bằng bạc. Vòng cổ, vòng cổ tay, hoa tai… càng đeo nhiều càng thể hiện sự giàu sang.

 

Hoa tai:  Làm bằng bạc, phần đeo vào tai là một vòng tròn có đường kính khoảng 3 - 4 cm, đính với vò ng hoa tai là một chùm hoa có ba múi hình dẹt.

 

Áo, váy cô dâu:  Trong ngày cưới, cô dâu về nhà chồng phải mặc rất nhiều áo, đội nhiều khăn. Phụ nữ Dao Tiền có tục lệ mừng cô dâu về nhà chồng bằng tiền, áo, váy, khăn. Cô dâu càng có nhiều chị, em gái, cô, dì, bạn gái thì càng được mừng nhiều. Khi cô dâu ra khỏi nhà bố, mẹ đẻ để về nhà chồng phải mặc từ 2 đến 7 bộ áo khăn rất nặng, cồng kềnh, vào mùa hè rất nóng nực và khó khăn trong việc đi lại. Vì vậy, thường có một vài chị em đi bên cạnh đỡ áo khăn cho cô dâu vừa là để giúp đỡ vừa là phong tục của người Dao. Trên đường về nhà chồng, đi được vài trăm mét, cô dâu được cởi bớt áo, váy, khăn, nhưng trước khi bước vào nhà chồng thì lại phải mặc vào đầy đủ. Ngoài áo, váy, khăn, cô dâu còn được đeo rất nhiều vòng, nhẫn, hoa tai và bộ xà tích.

 

Trang phục tang lễ:  Phụ nữ Dao Tiền trong tang lễ phải mặc á o, váy cũ và đội khăn trắng. Riêng đối với các con, cháu của  người quá cố thì phải mặc toàn đồ trắng.

 

 

                                                                             HBĐT tổng hợp

 

Các tin khác

Không có hình ảnh

Tìm hiểu về nhà lang trong xã hội cổ truyền Mường

(HBĐT) - Theo quan điểm chung của giới nghiên cứu cho thấy, chế độ lang - đạo ra đời trong xã hội Mường từ giai đoạn đồ đồng chuyển sang giai đoạn đồ sắt, tương ứng giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Nhờ có công cụ bằng kim khí nên năng suất lao động tăng cao, của cải trong xã hội dồi dào hơn trước. Hình thức sở hữu tư nhân chiếm ưu thế tuyệt đối, xã hội phân chia giai cấp diễn ra mạnh mẽ. Giai đoạn đầu khi mới hình thành, chế độ lang - đạo còn gần gũi với nhân dân, đóng vai trò như là tù trưởng, thủ lĩnh, phù hợp với trình độ sản xuất, quản lý xã hội khi đó. Trải qua hàng trăm năm, chế độ lang - đạo tập trung cho mình quyền tuyệt đối về sở hữu tư liệu sản xuất, thậm chí cả người dân của mình, dẫn đến độc quyền trong phân phối sản phẩm, độc quyền trong việc đề ra các luật lệ. Dân Mường phải lệ thuộc và trở thành nông nô, lao động cho các nhà lang. Chế độ này dần thoái hóa, trở nên cực kỳ bảo thủ, phản động cản trở bước tiến của xã hội và dần trở nên mâu thuẫn, đối lập sinh tử với dân Mường và bị đánh đổ trong cách mạng tháng 8/1945. Loạt bài viết này xin lược giới thiệu về nhà lang và chế độ nhà lang nhằm cung cấp cho bạn đọc cái nhìn tuy sơ lược nhưng toàn về chế độ này trong xã hội Mường trước tháng 8/1945.

Chuyện kể về anh hùng Bùi Văn Hợp

(HBĐT) - Con đường bê tông rợp bóng tre đưa chúng tôi đến ngôi nhà nhỏ tại xóm Chiềng 1, xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi - nơi anh hùng Bùi Văn Hợp sinh ra và lớn lên. Kín những khoảng tường trong ngôi nhà nhỏ là rất nhiều giấy khen, huân, huy chương. 45 năm sau ngày anh ngã xuống, câu chuyện về anh vẫn có sức sống mãnh liệt, là niềm tự hào của mảnh đất Mường Động anh hùng.

Truyền thống “ đi trước mở đường” tiếp bước tương lai

(HBĐT) - Địa bàn tỉnh là đầu mối giao thông tỏa đia mọi miền đất nước có tầm đặc biệt quan trọng trong thời chiến tranh. Quốc lộ 6 nối liền Thủ đô với các tỉnh đồng bằng qua miền Trung du lên Tây Bắc, sang Lào, vào các tỉnh khu 4, đến chiến trường miền Nam. Trục đường 6 nối liền quốc lộ 21A, 12A, 21B, quốc lộ 15, tất cả hình thành hệ thống GTVT liên hoàn. Trên các tuyến có 5 bến phà là: Bờ, Rút, Thia, Vụ Bản, Chi Nê. Trên các tuyến giao thông có các cầu, cống lớn, nhiều nhịp, khẩu độ hàng chục mét, có nhiều đoạn qua đèo hiểm trở bên núi, bên sông như dốc Chó Treo, đèo Hút Gió…Đó là những trọng điểm xung yếu được xác định là “yết hầu” của tuyến giao thông trên địa bàn, cũng là trọng điểm đánh phá liên tục của giặc Mỹ trong chiến tranh.

Xã Thu Phong âm vang chiến công bắn rơi máy bay Mỹ

(HBĐT)- Mảnh đất anh hùng Thu Phong (Cao Phong) đang từng ngày đổi thay. Thu Phong phủ một màu xanh bạt ngàn của những đồi cam. Trái cam vàng đã đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc nhưng trong tiềm thức của người dân nơi đây luôn âm vang chiến công oanh liệt dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ ngày 20/7/1966 của 5 dân quân xã Thu Phong.

Nhìn lại đôi nét lịch sử huyện Lạc Sơn, văn hóa Mường qua một bộ sưu tập ảnh quý

(HBĐT) - Hiện nay, tại làng Chiềng Vang ở huyện Lạc Sơn, trong gia đình ông Quách Phẩm còn lưu giữ hơn 100 bức ảnh đen trắng được chụp từ những năm 1930 - 1940 của thế kỷ XX, có giá trị về nhiều mặt. Qua thông tin các bức ảnh có thể cho ta thấy được phần nào về văn hóa, đời sống của người Mường trong thời Pháp thuộc. Trải qua nhiều thăng trầm của thời cuộc, lịch sử tác động đến gia đình cộng với sự dịch chuyển nhiều lần, qua tay nhiều người, chất liệu ảnh cơ bản in trên giấy nên nhiều ảnh đã phai, ố, bong tróc, tuy nhiên có nhiều bức ảnh còn giữ được những nét cơ bản dễ nhận biết.

Đồng chí Lê Duẩn - tấm gương người chiến sỹ cộng sản kiên cường

(HBĐT) - Sau khi đất nước thống nhất, cả nước cùng tiến lên CNXH, đồng chí Lê Duẩn đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm xác định và hoàn chỉnh đường lối cách mạng XHCN ở nước ta. Đường lối ấy thể hiện những tư tưởng lớn của đồng chí về giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; về nắm vững chuyên chính vô sản và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; về tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ; về nền văn hóa mới và con người mới XHCN; về cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý...