Các cô gái Dao chuẩn bị đi hội. (Ảnh: Quốc Dũng)

Các cô gái Dao chuẩn bị đi hội. (Ảnh: Quốc Dũng)

(HBĐT)- Phong tục là thói quen lâu ngày đã ăn sâu, bán rễ vào đời sống xóm làng, tộc người. Những phong tục điển hình trở nên phổ biến thường được coi là "luật tục". "Luật tục" có thể được thêm bớt hoặc thay đổi khi đời sống, xã hội có những thay đổi, phát triển mới.

 

Ba, bốn thể kỷ trước đây, người Dao Quần Chẹt thường sống lặng lẽ, kín đáo, ít bộc lộ tâm tư, tình cảm, giao lưu với người ngoại tộc và đã hình thành, tồn tại lâu dài nhiều "luật tục" nặng nề, phức tạp, cản trở sự phát triển tộc người.

 

Nhiều đôi trai gái yêu thương nhau mà không lấy được nhau chỉ vì những tục lệ quá phức tạp, nặng nề trong chọn tuổi, chọn ngày, kiêng kỵ khi đi về xem mặt, nhắn tiếng, ăn hỏi… Ví dụ như khi đi xem mặt, nhắn tiếng, ăn hỏi mà gặp con rắn, cầy, cáo hoặc nghe thấy tiếng hươu, nai kêu là phải quay về hoặc hủy bỏ việc nhắn tiếng, ăn hỏi, làm nhỡ thời cơ kết hôn của đôi trai gái đã yêu thương nhau. Trước đây, đường từ nhà trai đến nhà gái thường rất xa, đoàn đi đón, đưa dâu phải ăn cơm dọc đường, cũng giảm bớt khó khăn cho gia đình nhà gái và nhà trai. Ngày nay, nhiều khi hai gia đình nhà trai, nhà gái chỉ cách nhau vài ba chục thước cũng nhất thiết phải ăn bữa cơm dọc đường. Nhiều khi vừa ra khỏi cổng nhà gái hoặc đến cổng nhà trai cũng phải trải lá xuống lề đường ăn bữa cơm phong tục.

 

Lễ tang trước đây do nghèo túng, mặt khác vì phong tục. Người chết phải bó chiếu, đợi đêm xuống mới lặng lẽ khiêng ra rừng chôn cất. Tập quán du canh, du cư cũng tạo thêm cảnh con cháu không bao giờ biết mồ mả cha ông, tổ tiên của mình ở đâu mà tìm.

 

Trong nhà, trong xóm làng có phụ nữ sinh nở, có người ốm đau phải cũng bái kiêng kỵ. Những ngày lễ hội không cho người lạ, người ngoại tộc vào dự. Khi hiện tượng đó chỉ mới là phong tục không đủ sức ngăn cấm, người Dao đã biết những phong tục ấy thành "luật tục", hiệu báo cấm là những cành lá hoặc vỉ tre đan mắt cao cắm ở cổng hoặc đầu làng, nếu ai vi phạm sẽ bị phạt vạ rất nặng…

 

Chỉ mới nêu vài điển hình đã thấy những "luật tục" được bảo lưu, duy trì quá lâu, cả khi không còn phù hợp với sự phát triển xã hội, đới sống tộc người. Nhưng "luật tục" như vậy đã hạn chế sự phát triển của xóm làng, tộc người.

 

Từ khi thực hiện chính sách định canh, định cư, đất nước đổi mới đến nay, đặc biệt từ khi thực hiện phong trào xâydựng gia đình văn hóa, xóm làng, khu phố văn hóa; người Dao đã mở rộng giao lưu trao đổi, học tập, sinh hoạt, canh tác sản xuất, phát triển kinh tế. Hệ thống chính trị, xã hội được thiết lập phát huy được sức mạnh tổ chức và tinh thần đoàn kết cộng đồng.

 

Nhiều "luật tục" cũ không phù hợp nữa đã dần loại bỏ. Nghệ thuật ca nhạc, nhảy múa trước đây cấm không được đưa ra khỏi các lễ hội, trong gia đình, làng xóm, nay thanh - thiếu nhiên, nghệ nhân và cả các thầy cúng đã đưa ca nhạc, nhảy múa tộc người, phong tục, lễ hội ra ngoài trời, sân vận động và sân khấu của huyện, tỉnh và các tỉnh khác để biểu diễn. Các lễ hội dân tộc, người ngoài xóm làng, ngoại tộc đã có thể đến dự và tham gia hành lễ. Việc hôn nhân, lễ cưới cũng có nhiều đổi mới. Đặc biệt, trong lễ tang, người chết đã có quan tài, bà con làng xóm đến phúng viếng. Gia đình, đoàn thể, cộng đồng làng xã đã cùng gia đình tổ chức lễ tang, thân tình, linh thiêng theo bản sắc tộc người. Nhiều gia đình đã đưa người chết vào nghĩa trang của làng, của xã và cũng đã xây mồ mả vững chắc, đẹp đẽ cho người thân quá cố của mình.

 

Trước đây, hai nhóm Dao Tiền và Dao Quần Chẹt không được kết hôn với nhau. Người chết không chôn chung một khu đất, không ơ chung với nhau trong xóm làng, nay đã có những đôi trai gái của hai nhóm Dao Tiền và Dao Quần Chẹt kết hôn với nhau, xây dựng cuộc sống phát triển, ấm no, hạnh phúc.

 

Đúng là khi đường lối, chính sách dân tộc, xóa đói - giảm nghèo, phát triền kinh tế, xây dựng gia đình xóm làng văn hóa mới của Đảng và Nhà nước thấm đến lòng dân, từng cá thể người, cả cộng đồng tộc người đã tiến bộ nhanh, cơ bản và bền vững.

                                                             

                                    Bùi Chí Thanh

                                  (SN 117, tổ 1, P.Chăm Mát - TPHB)

 

 

Các tin khác

Không có hình ảnh

Tìm hiểu về nhà lang trong xã hội cổ truyền Mường

(HBĐT) - Theo quan điểm chung của giới nghiên cứu cho thấy, chế độ lang - đạo ra đời trong xã hội Mường từ giai đoạn đồ đồng chuyển sang giai đoạn đồ sắt, tương ứng giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Nhờ có công cụ bằng kim khí nên năng suất lao động tăng cao, của cải trong xã hội dồi dào hơn trước. Hình thức sở hữu tư nhân chiếm ưu thế tuyệt đối, xã hội phân chia giai cấp diễn ra mạnh mẽ. Giai đoạn đầu khi mới hình thành, chế độ lang - đạo còn gần gũi với nhân dân, đóng vai trò như là tù trưởng, thủ lĩnh, phù hợp với trình độ sản xuất, quản lý xã hội khi đó. Trải qua hàng trăm năm, chế độ lang - đạo tập trung cho mình quyền tuyệt đối về sở hữu tư liệu sản xuất, thậm chí cả người dân của mình, dẫn đến độc quyền trong phân phối sản phẩm, độc quyền trong việc đề ra các luật lệ. Dân Mường phải lệ thuộc và trở thành nông nô, lao động cho các nhà lang. Chế độ này dần thoái hóa, trở nên cực kỳ bảo thủ, phản động cản trở bước tiến của xã hội và dần trở nên mâu thuẫn, đối lập sinh tử với dân Mường và bị đánh đổ trong cách mạng tháng 8/1945. Loạt bài viết này xin lược giới thiệu về nhà lang và chế độ nhà lang nhằm cung cấp cho bạn đọc cái nhìn tuy sơ lược nhưng toàn về chế độ này trong xã hội Mường trước tháng 8/1945.

Chuyện kể về anh hùng Bùi Văn Hợp

(HBĐT) - Con đường bê tông rợp bóng tre đưa chúng tôi đến ngôi nhà nhỏ tại xóm Chiềng 1, xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi - nơi anh hùng Bùi Văn Hợp sinh ra và lớn lên. Kín những khoảng tường trong ngôi nhà nhỏ là rất nhiều giấy khen, huân, huy chương. 45 năm sau ngày anh ngã xuống, câu chuyện về anh vẫn có sức sống mãnh liệt, là niềm tự hào của mảnh đất Mường Động anh hùng.

Truyền thống “ đi trước mở đường” tiếp bước tương lai

(HBĐT) - Địa bàn tỉnh là đầu mối giao thông tỏa đia mọi miền đất nước có tầm đặc biệt quan trọng trong thời chiến tranh. Quốc lộ 6 nối liền Thủ đô với các tỉnh đồng bằng qua miền Trung du lên Tây Bắc, sang Lào, vào các tỉnh khu 4, đến chiến trường miền Nam. Trục đường 6 nối liền quốc lộ 21A, 12A, 21B, quốc lộ 15, tất cả hình thành hệ thống GTVT liên hoàn. Trên các tuyến có 5 bến phà là: Bờ, Rút, Thia, Vụ Bản, Chi Nê. Trên các tuyến giao thông có các cầu, cống lớn, nhiều nhịp, khẩu độ hàng chục mét, có nhiều đoạn qua đèo hiểm trở bên núi, bên sông như dốc Chó Treo, đèo Hút Gió…Đó là những trọng điểm xung yếu được xác định là “yết hầu” của tuyến giao thông trên địa bàn, cũng là trọng điểm đánh phá liên tục của giặc Mỹ trong chiến tranh.

Xã Thu Phong âm vang chiến công bắn rơi máy bay Mỹ

(HBĐT)- Mảnh đất anh hùng Thu Phong (Cao Phong) đang từng ngày đổi thay. Thu Phong phủ một màu xanh bạt ngàn của những đồi cam. Trái cam vàng đã đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc nhưng trong tiềm thức của người dân nơi đây luôn âm vang chiến công oanh liệt dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ ngày 20/7/1966 của 5 dân quân xã Thu Phong.

Nhìn lại đôi nét lịch sử huyện Lạc Sơn, văn hóa Mường qua một bộ sưu tập ảnh quý

(HBĐT) - Hiện nay, tại làng Chiềng Vang ở huyện Lạc Sơn, trong gia đình ông Quách Phẩm còn lưu giữ hơn 100 bức ảnh đen trắng được chụp từ những năm 1930 - 1940 của thế kỷ XX, có giá trị về nhiều mặt. Qua thông tin các bức ảnh có thể cho ta thấy được phần nào về văn hóa, đời sống của người Mường trong thời Pháp thuộc. Trải qua nhiều thăng trầm của thời cuộc, lịch sử tác động đến gia đình cộng với sự dịch chuyển nhiều lần, qua tay nhiều người, chất liệu ảnh cơ bản in trên giấy nên nhiều ảnh đã phai, ố, bong tróc, tuy nhiên có nhiều bức ảnh còn giữ được những nét cơ bản dễ nhận biết.

Đồng chí Lê Duẩn - tấm gương người chiến sỹ cộng sản kiên cường

(HBĐT) - Sau khi đất nước thống nhất, cả nước cùng tiến lên CNXH, đồng chí Lê Duẩn đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm xác định và hoàn chỉnh đường lối cách mạng XHCN ở nước ta. Đường lối ấy thể hiện những tư tưởng lớn của đồng chí về giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; về nắm vững chuyên chính vô sản và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; về tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ; về nền văn hóa mới và con người mới XHCN; về cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý...