(HBĐT) - 1 - Di tích hang xóm Trại, xã Tân Lập (Lạc Sơn): Từ khi phát hiện cho tới nay đã có tới 8 cuộc điều tra, thám sát, khai quật tại di tích. Những giá trị tiêu biểu: Đã phát hiện số lượng di vật đá xương phong phú nhất lên tới trên 5.000 tiêu bản.



Các di vật được khai quật ở hang xóm Trại, xã Tân Lập (Lạc Sơn).

Đây vừa là nơi cư trú lâu dài, vừa là công xưởng để chế tác công cụ của cư dân Văn hoá Hoà Bình. Sự xuất hiện hàng trăm hiện vật đá thể khối lớn, trung bình tới 10 kg/hv. Tầng văn hoá khảo cổ rất dày lên tới 5 m và trải dài trên bề mặt 200 m2 của hang cùng với số lượng vỏ ốc rất lớn tới hàng chục triệu vỏ. Phát hiện vết tích tro bếp dày hàng mét. Phát hiện hệ thống tư liệu nghệ thuật tiền sử sớm nhất hiện biết ở Việt Nam và có thể ở Đông Nam á. Phát hiện hệ thống hai lối đi cổ tương ứng với thời kỳ bắt đầu đến sống ở hang (trước 21 ngàn năm) và khoảng 8 - 9 nghìn năm sau những đợt đá rơi đầu toàn tân. Phát hiện một phần của bộ hài cốt cổ nằm trong địa tầng có tuổi C14 khoảng 17 ngàn năm. Phát hiện hệ thống đá khoáng có thể dùng do nhu cầu mất cân bằng dinh dưỡng khoáng nguyên thuỷ. Qua những công cụ đá balzan mài tại hang đã giúp cho việc hoàn thiện tư liệu về kỹ thuật mài sớm trong thời đại đá cũ Việt Nam. Đã phát hiện được nhiều mảnh gốm thuộc văn hoá Đa Bút cách ngày nay 5 - 6 nghìn năm, có nhiều mảnh được trang trí hoa văn rất đẹp... Từ những phát hiện mới trên, hang xóm Trại đã trở thành địa điểm Văn hoá Hoà Bình tiêu biểu nhất của Việt Nam và khu vực Đông Nam á.

2- Di tích hang Chổ, xã Cao Răm (Lương Sơn): Di chỉ hang Chổ năm 1926 đã được nhà khảo cổ học người Pháp bà M. Côlani khai quật từ ngày 9- 13/12. Sau này, qua nhiều lần được điều tra, thám sát và nghiên cứu, các nhà khảo cổ học đều cho rằng: Di chỉ hang Chổ là nơi cư trú khá lâu của người nguyên thuỷ (thể hiện ở tầng văn hoá rất dày). Căn cứ vào số lượng mảnh tước lớn, mảnh vỡ công cụ nhiều. Đồng thời còn phát hiện một số thạch đá có thể tích lớn (có vết bổ dở) là nguyên liệu chế tác công cụ chứng tỏ di tích còn là di chỉ xưởng. Về niên đại, hang Chổ trong tương quan với các di tích Hoà Bình khác. Hang Chổ có những yếu tố biểu hiện của một giai đoạn cao của Văn hoá Hoà Bình. Căn cứ vào tổng thể di vật có thể đã ra một khung niên đại tương đối của di tích trên dưới 10.000 năm trong giai đoạn chuyển tiếp sang trung kỳ đá mới ở nước ta. Di vật đá ở hang Chổ biểu hiện những đặc trưng của di vật văn hoá Hoà Bình. Công cụ làm bằng đá cuội chiếm đa số, trong đó bao gồm cả những hòn cuội nguyên và những loại làm từ mảnh cuội tách mỏng. Ngoài những loại hình công cụ thuộc nhóm truyền thống như công cụ rìa lưỡi dọc, công cụ rìa liên tiếp, mũi nhọn thì nổi bật lên là những đặc chủng công cụ đá Hoà Bình bao gồm công cụ hình bầu dục, hình hạnh nhân, hình chữ nhật và rìu ngắn loại di vật có nhiều lỗ vũm nhỏ mà bà M.Colani gọi là Pierres à cuppules thường gặp trong các di tích Hoà Bình khác cũng có mặt ở đây. Tầng văn hoá chủ yếu là nhuyễn thể ốc lẫn còn có các vỏ trai sông rất to và dày cho thấy, khí hậu trong vùng thời kỳ ấy có độ ẩm cao và có các dòng sông, suối lớn trong khu vực.

3- Di tích hang Đồng Thớt, xã Thanh Nông (Lạc Thủy): Nhà khảo cổ M.Colani trở lại nghiên cứu một số nơi trong tỉnh Hoà Bình lần thứ 2 từ tháng 9 đến nửa tháng 12/1926. Di chỉ hang Đồng Thớt là một trong những di chỉ khai quật trong thời kỳ này. Tổng số hiện vật mà M. Colani thu được ở di chỉ này là 527 hiện vật, trong đó hầu hết là đồ đá, một số ít là đồ xương, một số răng xương động vật. Những kết quả của cuộc khai quật này, bà chưa nghiên cứu và chưa công bố mà chỉ thấy nói đến di chỉ này ở phần "những nhận xét mới” trong cuốn "Thời đại đồ đá trong tỉnh Hoà Bình”. Những hiện vật tìm được ở di chỉ hang Đồng Thớt hiện nay chỉ giữ được một số tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Tất cả có 123 hiện vật, so sánh với phiếu ghi hiện vật của M.Colani để lại là 527 hiện vật thì còn thiếu nhiều không thể làm cứ liệu đầy đủ cho công tác nghiên cứu. Trước tình hình đó, năm 1966, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tiến hành khảo sát thăm dò và khai quật ở tầng văn hoá còn nguyên vẹn từ ngày 14- 30/4/1966. Với diện tích khai quật 36 m2, đoàn đã thu thập một khối lượng hiện vật rất lớn. Đây là tài liệu hiện vật rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu nền văn hoá Hoà Bình. Hang Đồng Thớt là một di chỉ thuộc nền Văn hoá Hoà Bình. Tầng văn hoá khảo cổ ở đây tuy dày và chia thành nhiều lớp rõ rệt nhưng những di vật phân bổ trong đó không có những yếu tố đánh dấu sự khác nhau về giai đoạn phát triển của Văn hoá Hoà Bình. Về niên đại: Căn cứ vào di vật, địa tầng trong mối tương quan với các di tích khác của nền Văn hoá Hoà Bình cho phép đưa ra một khung niên đại tương đối cho di chỉ này từ 10.000- 7.000 năm cách ngày nay.

4- Di tích hang Muối, thị trấn Mường Khến (Tân Lạc): Tháng 9/1963, Đội khai quật Vụ Bảo tồn- Bảo tàng thuộc Bộ Văn hoá đã tiến hành khai quật với quy mô nhỏ ở hang Muối. Tháng 5/1964, đội khảo cổ Bộ Văn hoá lại tiến hành thám sát hang Muối một lần nữa để kiểm tra lại địa tầng và thu nhập thêm một số hiện vật làm cơ sở nghiên cứu sau này, tạo điều kiện nghiên cứu Văn hoá Hoà Bình một cách toàn diện hơn. Tiếp đến tháng 6 và 7/1965, Viện Bảo tàng tiến hành khai quật trên phần còn lại của khu vực chưa được nghiên cứu của các lần trước nhằm bổ sung hiện vật cho công tác nghiên cứu và trưng bày trong cuộc chỉnh lý tiến hành vào năm 1966. Cuộc khai quật lần này là một trong những cuộc khai quật đầu tiên có quy mô tương đối lớn của ngành Khảo cổ học nước ta về Văn hoá Hoà Bình từ sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Quá trình thám sát, khai quật, nghiên cứu hang Muối, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy sự cấu tạo của tầng văn hoá rất dầy (đến 1,70 m); phát hiện thấy hai hố đất mùn (hố rác) bếp nguyên thuỷ và một số hiện vật rất lớn (hơn 900 hiện vật) và 2 mộ táng, điều đó chứng tỏ rằng đây là một di chỉ cư trú của người nguyên thuỷ. Phát hiện ra di tích hang Muối là một bước hết sức quan trọng và mang một giá trị lịch sử to lớn. Nó có ý nghĩa về nhiều mặt khoa học. Việc nghiên cứu khoa học, tìm những tư liệu chứa đựng trong di tích là một bước cần thiết, là yếu tố quan trọng trong công tác nghiên cứu việc phát sinh và phát triển loài người. Chính vì vậy, di tích hang Muối trên đất nước ta nói chung, của Tân Lạc, Hoà Bình nói riêng là một tài sản vô cùng quý báu; đóng góp một phần cho nền khoa học nước nhà cũng như nền khoa học thế giới một tư liệu cực kỳ quý báu.

(Còn nữa)
PV (TH)

Bài 5: Định hướng bảo tồn và phát huy giá trị của Văn hóa Hòa Bình

Các tin khác


Thị xã bên sông Đà anh dũng trong chống Mỹ

(HBĐT) - Sông Đà – dòng sông của thác ghềnh, dữ dội ngày nào giờ hiền hòa, lung linh trong ánh điện của công trình thế kỷ. Với người dân thị xã Hoà Bình xưa, dòng sông như nhân chứng, biểu tượng cho những con người anh dũng, quả cảm của biết bao thế hệ đã lên đường chiến đấu, hy sinh, góp phần cùng cả nước dành độc lập tự do ngày hôm nay.

Những địa điểm không thể bỏ qua khi đi du lịch ở Hòa Bình

Du lịch Hòa Bình hấp dẫn du khách bởi những nét văn hóa vô cùng đặc sắc của các dân tộc miền nùi đang sinh sống tại đây

Miền đất cổ Mường Bi - Tân Lạc tạo được bước chuyển mới trong phát triển KT-XH

(HBDT) - Trước đây, Tân Lạc thuộc huyện Lạc Thổ, phủ Thiên Quan, đạo Thanh Bình. Cho đến khi thực dân Pháp lập tỉnh Mường Hòa Bình, vùng Tân Lạc nằm trong 2 tổng Lạc Thiện và Lạc Nghiệp, phủ Lạc Sơn.

Về nơi mở đầu chiến dịch giải phóng Hòa Bình

(HBĐT) - “Đây là chiến thắng đầu tiên của quân đội ta đánh địch trong công sự vững chắc. Với chiến thắng Tu Vũ, chúng ta đã phá tan được phòng tuyến sông Đà, mở màn cho chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình, góp phần mở rộng vùng giải phóng” - đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá về ý nghĩa của chiến thắng ở Tu Vũ (12/1951), nay là xã Tu Vũ, huyện Thanh Thủy (Phú Thọ).

Kỷ niệm 65 năm giải phóng tỉnh Hòa Bình (23/2/1952 - 23/2/2017)

(HBĐT) - Thực hiện chủ trương của T.ư Đảng và Bác Hồ về việc mở Chiến dịch Hòa Bình (1951 - 1952), khi đó, cùng với các tầng lớp nhân dân, cán bộ, đảng viên từ vùng thấp lên vùng cao nô nức, tích cực cùng toàn dân tham gia chiến đấu, đánh địch giữ đất, giữ làng.

Về nơi mở đầu chiến dịch giải phóng Hòa Bình

(HBĐT) - “Đây là chiến thắng đầu tiên của quân đội ta đánh địch trong công sự vững chắc. Với chiến thắng Tu Vũ, chúng ta đã phá tan được phòng tuyến sông Đà, mở màn cho chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình, góp phần mở rộng vùng giải phóng” - đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá về ý nghĩa của chiến thắng ở Tu Vũ (12/1951), nay là xã Tu Vũ, huyện Thanh Thủy (Phú Thọ).

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục