"Cục đất để nguyên thì chỉ là cục đất, nhưng nếu qua bàn tay tài hoa, khéo léo có thể trở thành sản phẩm giá trị. Và, để tạo dựng được thương hiệu gốm Bát Tràng với thế giới là cả một hành trình đầy nỗ lực và không ngừng vượt khó của người làng nghề” - nghệ nhân gốm sứ Hà Thị Vinh trải lòng...

Đưa gốm Bát Tràng ra thế giới

Sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống nhiều đời làm gốm ở xã Bát Tràng (huyện Gia Lâm), bà Hà Thị Vinh đã cống hiến hết mình, làm hưng thịnh nghề gốm ở quê hương. Giờ đây, nữ nghệ nhân vẫn tiếp tục những dự định góp phần đưa làng gốm Bát Tràng trở thành điểm du lịch đặc sắc.
 

Sản xuất gốm tại Công ty TNHH Gốm sứ Quang Vinh.


Tại nhà máy gốm sứ Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh) của Công ty TNHH Gốm sứ Quang Vinh, bà Hà Thị Vinh niềm nở đưa chúng tôi tham quan các khâu trong quy trình tạo ra sản phẩm. Tuy đã ngoài 60 tuổi, nhưng bà vẫn thoăn thoắt với đôi mắt tinh tường quán xuyến công việc gọn ghẽ, khoa học...

Bên chén trà, lúc chậm rãi, khi sôi nổi, bà kể về những ngày đầu khởi nghiệp với hành trình đánh đổi bằng mồ hôi và cả nước mắt. Sản xuất cái gì, bán ở đâu, tiếp cận thị trường bằng cách nào... luôn đau đáu trong bà. Những năm cuối thập niên 8 của thế kỷ trước, khi bắt đầu thành lập tổ hợp sản xuất, bà Vinh đi nhiều nơi tìm kiếm thị trường. "Gõ cửa” một số tổng công ty xuất, nhập khẩu ở Hà Nội nhưng không thành công, bà tiếp tục tìm khách hàng tại thị trường TP Hồ Chí Minh. Rồi, hành trình tìm bạn hàng xuất khẩu trên đất Mỹ, Đức, Australia, Đan Mạch, Hàn Quốc, Nhật Bản… Đặc biệt, bà đã sang Trung Quốc - cái nôi gốm sứ của thế giới rất nhiều lần để tìm hiểu cách thức sản xuất quy mô lớn.

"Thị trường nước ngoài rất khó tính. Tuy hàng gốm trau chuốt, sản phẩm đẹp nhưng người Bát Tràng đốt lò bằng than, không thân thiện với môi trường nên bị mất khách” - bà Vinh quả quyết. Bà đã nhận ra mô hình gia công sẽ không thể phát triển được nếu muốn thâm nhập các thị trường "khó tính". Năm 2001, công ty quyết định đầu tư thêm một nhà máy sản xuất gốm sứ tại huyện Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh). Công ty là doanh nghiệp đầu tiên ở miền Bắc nhập lò nung đốt bằng gas - công nghệ cao của Đài Loan (Trung Quốc) với trị giá hơn 20.000 USD và tiến đến áp dụng lò nung bằng gas theo công nghệ tiên tiến của Đức; đầu tư hệ thống chế biến nguyên liệu theo công nghệ của Nhật Bản, Đan Mạch... "Sản phẩm gốm sứ qua cải tiến chất liệu phối trộn nên cứng, khó vỡ nhưng rất nhẹ. Cùng với đó là kết hợp các chất liệu men và hoa văn giữa cổ điển với hiện đại, tạo ra sản phẩm thời trang nhưng không lỗi mốt” - bà Vinh chia sẻ...

Đối với công nhân, bà Vinh tuyển chọn lao động và dạy nghề tại chỗ. Qua kiểm tra, những ai phù hợp mảng nào, bà cho đào tạo chuyên sâu mảng đó, từ thợ vuốt, nặn, vào lò, vẽ... nên hầu hết công nhân của công ty đều thuần thục những công đoạn được giao.

Đi lên từ thợ gốm rồi thành lập tổ hợp sản xuất với 6 lao động, đến nay, công ty của bà Vinh đã phát triển hơn 300 lao động với 2 xưởng sản xuất tại Bát Tràng (Hà Nội) và Đông Triều (Quảng Ninh). Trên 90% sản phẩm gốm của công ty được xuất khẩu đến hơn 20 quốc gia, trong đó có những thị trường "kỹ tính” như Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Mỹ, Tây Ban Nha...

Phát triển du lịch làng nghề

"Ước gì anh lấy được nàng/Để anh mua gạch Bát Tràng về xây” - nổi tiếng từ lâu đời, gạch Bát Tràng xuất hiện ở nhiều khu di tích lớn trên cả nước, từ Kinh đô Huế đến Thành cổ Quảng Trị, Hoàng thành Thăng Long hay tại các làng quê Bắc Bộ với rất nhiều đường làng, sân đình được lát gạch Bát Tràng xưa. Đó là những viên gạch tốt nhất, bền nhất, qua năm tháng không rêu mốc, sứt mẻ... Bà Vinh kể: "Ngày xưa người làng Bát Tràng không chủ tâm làm gạch. Người làng nghề mua đất sét từ các nơi về pha với nước để lọc lấy đất tinh làm hàng cao cấp như bát đĩa, đôn, chậu… Phần đất thô được đem trộn với những mảnh bát, mảnh sành vỡ rồi đóng thành từng viên gạch lớn để ngăn giữa vùng "nóng” và vùng "lạnh” trong lò nung gốm. Do được dùng nhiều lần, nung đi nung lại nên gạch rất chắc, bền. Sau này, gạch Bát Tràng nổi tiếng, nhu cầu tiêu thụ cao, người Bát Tràng mới sản xuất gạch...”.

Tuy nhiên, hiện nay, nghề gạch còn rất ít hộ làm. Công ty Quang Vinh đã nghiên cứu phục chế và cho ra lò sản phẩm gạch Bát Tràng xưa nhằm đáp ứng yêu cầu phục dựng các công trình kiến trúc cổ. Bà Vinh đã tận thu phế liệu của các nhà máy gạch trong khu vực, trộn với đất sét và một số chất liệu để phục chế sản phẩm gạch Bát Tràng. Gạch được đốt ở nhiệt độ 1.250-1.350oC. Từ khi nung đến khi ra lò là 12 ngày nên sản phẩm rất cứng, đẹp. Theo bà Vinh, sản phẩm này sẽ phục vụ các dự án mà công ty đang triển khai tại Bát Tràng và sẽ là nguồn cung để cải tạo các công trình kiến trúc theo lối cổ...

Với tư cách là Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và làng nghề Hà Nội và Phó Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam, ngoài sản xuất, bà Vinh còn hướng công ty tới phát triển du lịch. "Làng nghề chứa đựng nhiều tinh hoa, làm thế nào để khoe với thế giới? Khi TP Hà Nội có chủ trương xây dựng làng gốm Bát Tràng kết hợp với du lịch, tôi xung phong xây dựng dự án du lịch làng nghề, trình thành phố phê duyệt. Dự án phát triển làng nghề gắn với du lịch không chỉ thu hút thêm lượng khách mà người làng gốm cũng sẽ được hưởng lợi. Dự kiến, năm 2019, dự án Trung tâm Tinh hoa làng nghề Việt tại Bát Tràng do công ty thực hiện sẽ được khởi công. Tôi muốn du khách đến làng Bát Tràng được thăm đình, đền thờ Mẫu, văn chỉ của làng và nghe người làng Bát Tràng kể chuyện - những câu chuyện làm nghề từ nhiều đời, rất đời thường nhưng ẩn chứa nhiều điều thú vị: Tại sao đường làng Bát Tràng rất nhỏ, tại sao món ăn Bát Tràng lại ngon đến thế, tại sao cột đình làng Bát Tràng 2 người ôm không xuể...? Đặc biệt, du khách sẽ được trải nghiệm, tự tay làm các bộ ấm chén thật đẹp, tự vẽ họa tiết lên những chiếc bình và thưởng thức các món đặc sản của Bát Tràng như: Xôi vò, chè đường, bánh chưng, chè kho, măng mực” - bà Vinh sôi nổi.

Bà còn kể nhiều câu chuyện về tâm linh, về truyền thống lịch sử, về nghề... "Chúng tôi xây dựng các tour du lịch để du khách trải nghiệm. Hiện nay, vào cuối tuần, làng nghề Bát Tràng đã có hàng trăm khách đến tham quan. Tương lai gần, du lịch làng nghề chắc chắn sẽ phát triển, trở thành nguồn lực lớn trong phát triển kinh tế - xã hội địa phương” - bà Vinh kỳ vọng và chúng tôi cũng tin vào điều đó!

                       TheoHanoimoi

Các tin khác


40 năm chiến tranh Biên giới phía Bắc: Ký ức không phai

(HBĐT) - Họ là những nhân chứng lịch sử trong những ngày tháng chiến đấu ác liệt cho thấy cuôc chiến đấu anh dũng và chính nghĩa và quân và dân ta bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979. Sẽ mãi mãi được khắc ghi vào lịch sử giữ nước như một dấu mốc không thể phai mờ

40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc ở biên giới phía Bắc - Bài 3: Trở lại Cao Bằng

Trở lại TP Cao Bằng, nơi địa đầu đất nước, không ai nghĩ rằng đúng 40 năm trước, quân và dân ở mảnh đất phên dậu này đã phải trải qua một cuộc chiến chống quân Trung Quốc, dù chỉ trong thời gian ngắn nhưng lại vô cùng tàn khốc, ác liệt và đau thương, để bảo vệ biên cương thiêng liêng của Tổ quốc.

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc 1979 - 1989: “Kẻ thù buộc ta ôm cây súng”

(HBĐT) -Những ngày này đúng 40 năm về trước, hơn 600.000 quân xâm lược Trung Quốc bất ngờ tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta. Quân xâm lược không ngờ được rằng, tuy bị bất ngờ nhưng cũng giống như 14 lần xua quân xâm chiếm nước Nam của các triều đại phong kiến phương Bắc trước đó trong lịch sử, chúng đã phải nhận lấy những đòn chí mạng bởi truyền thống quật cường, tinh thần quả cảm của quân và nhân dân ta...

40 năm Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc: Ký ức không quên

Một mùa Xuân nữa lại về trên những rẻo cao biên giới của tỉnh Lào Cai. Sự ấm no, hạnh phúc, bình an đã hiển hiện trong từng nếp nhà của đồng bào các dân tộc Mông, Nùng, Dao, Hà Nhì... ở địa phương - nơi có con sông Hồng chảy vào đất Việt.

40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc ở biên cương- Bài 2: Lạng Sơn những ngày khói lửa

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc đã diễn ra khốc liệt tại 6 tỉnh biên giới vào rạng sáng 17-2-1979, trên các mặt trận. Quân Trung Quốc dùng hỏa lực, bộ binh, xe tăng nhanh chóng lấn chiếm biên giới các tỉnh. Ác liệt nhất là mặt trận Đồng Đăng, Lạng Sơn, bởi chiếm được Đồng Đăng coi như con đường thọc sâu vào lãnh thổ nước ta của Trung Quốc trở nên thuận lợi. Những chứng tích, nhân chứng còn lại đã minh chứng sự chiến đấu anh dũng để gìn giữ từng tấc đất biên cương Tổ quốc của quân và dân ta.

40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc ở biên giới phía Bắc - Bài 1: Hiên ngang Pò Hèn

Lịch sử dân tộc mãi khắc ghi những ngày tháng oanh liệt cách đây 40 năm (17-2-1979 – 17-2-2019), khi quân và dân ta đã anh dũng, kiên cường chiến đấu trước cuộc tấn công xâm lược của quân Trung Quốc trên toàn tuyến biên giới phía Bắc. Những ngày đầu năm mới, nhóm phóng viên Báo SGGP đã trở lại nhiều địa danh lịch sử trên tuyến biên giới phía Bắc để tìm lại những dấu tích và gặp gỡ các nhân chứng trong cuộc chiến tranh chính nghĩa của quân dân ta bảo vệ biên cương, lãnh thổ, đồng thời ghi nhận sự đổi thay, vươn lên phát triển mạnh mẽ của những vùng đất thiêng liêng của dân tộc sau cuộc chiến vệ quốc khốc liệt.