(HBĐT) - Trong xã hội, các gia đình sống sát nhau, làm nhà gần nhau, có chung một loại hình nghề nghiệp sinh tồn, xu hướng liên kết với nhau trong và ngoài huyết thống tạo nên các KDC.


Quá trình liên kết thực thể này trong người Mường chính là hình thành KDC cổ truyền mang tên gọi: Kwêl (tổ hợp kw - đọc như q trong tiếng Việt), bủng, lủng, lang, dịch sang tiếng phổ thông là: Quê, búng, lũng, làng.
 
Với người Mường ở Hòa Bình, hình thái các KDC cổ truyền gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, chăn nuôi, săn bắn và hái lượm ở trình độ tự cung, tự cấp tại chỗ, các hình thức giao thương chưa phát triển. Tổ chức các KDC này thuộc dạng tổ chức xã hội nông thôn miền núi.



Các khu dân cư cổ truyền Mường thường tọa trên các mái đồi thấp, lưng tựa vào phía sau có thế đất cao hơn, nhà sàn hướng về trước là cánh đồng lúa.
 
Địa bàn người Mường sinh sống trong các thung lũng hẹp, quanh chân thấp của những sườn núi, sườn đồi bao bọc các thung lũng. Họ ở nhà sàn, nghề trồng lúa nước là chủ yếu, có một số nơi vùng cao còn trồng lúa nương. Trên các thung lũng, bãi bằng mở ra phía trước được khai khẩn thành đất trồng trọt, xung quanh là các ngọn đồi thấp hoặc núi đá vôi. Cũng có một số nơi người Mường lập làng giữa các cánh đồng.
 
Do đặc điểm địa hình và phương thức sản xuất nên các KDC của người Mường là tổ chức xã hội nông thôn theo nghề nghiệp có pha chút dáng dấp của tổ chức nông thôn theo dạng họ tộc cùng huyết thống.
 
Các khu dân cư tổ chức theo dạng phường, hội nghề nghiệp thủ công trước tháng 8/1945 hầu như chưa xuất hiện.
 
Mo sử thi Đẻ đất - đẻ nước đã mô tả rất rõ lịch sử hình thành các KDC của người Mường bằng hình tượng ba anh em nhà lang đá Cài, lang đá Cần và nàng Dạ Kịt trước ở trong hang đá, sau đó ra khỏi hang khai khẩn đất đai để trồng trọt, sau đó mới làm nhà sàn để ở, từ đó hình thành các làng mường. Theo các nhà khoa học, bối cảnh xã hội được phản ánh trong mo sử thi Đẻ đất - đẻ nước được xác định tương đương với thời sơ sử, thời đại đồ đồng bắt đầu thịnh hành, tức là vào giai đoạn hình thành nhà nước Văn Lang, tương đương thời Vua Hùng dựng nước cách ngày nay trên 2.500 năm. Lịch sử loài người cho thấy, từ đời sống nguyên thuỷ tổ chức thành các bộ lạc sở hữu tài sản tập thể. Sau đó do sự phát triển của sản xuất, hình thức chiếm hữu tài sản và tư liệu lao động thành của tư hữu, khi đó hình thành các ngôi nhà với sở hữu riêng của từng gia đình và hình thành các KDC.
 
Không ai biết chính xác một cách cơ học thời điểm hình thành các KDC của người Mường, chỉ biết rằng đã xuất hiện rất lâu đời và tồn tại trong các thung lũng được khai khẩn thành ruộng cấy lúa, đồng bãi để trồng màu nên người Mường bắt buộc phải định cư ổn định lâu dài, không có tập quán du canh, du cư dù rằng có một bộ phận cư dân sống bằng nghề làm nương rẫy.
 
Sự hình thành các KDC mới là một quá trình theo chiều dọc thời gian chưa bao giờ ngừng kéo dài liên tục trong lịch sử người Mường từ trước cho tới ngày nay vẫn đang tiếp tục.
 
Đặc điểm địa hình vùng người Mường sinh sống trên địa bàn tỉnh cơ bản là vùng trung du, đồi núi thấp, các đồi núi xen lẫn tạo nên các thung lũng bồn địa, vùng đồng bằng nhỏ, hẹp chằng chịt khe lạch và sông, suối. Đây là yếu tố tự nhiên tác động rất lớn đến việc định hình các KDC cổ truyền của người Mường.
 
Các KDC của người Mường thường tọa trên những chân đồi thấp, mái gò đất thoai thoải, lưng tựa vào núi, đồi hay các thế đất cao hơn đổ thoai thoải về phía trước. Các ngôi nhà sàn hướng ra phía trước hay xung quanh là cánh đồng hay đất bãi dùng canh tác nông nghiệp, xa xa hơn thường có con sông, con suối chảy qua. Đặc điểm này thể hiện rõ nhất trong khu vực thung lũng Mường Vang thuộc huyện Lạc Sơn. Loại địa hình này thường không ổn định, không đồng nhất, các chân đồi có nơi thoai thoải độ dốc vừa phải song cũng có nhiều nơi độ dốc cao trên mái đồi xuống đến chân đồi lại khá bằng phẳng. Đây là đặc trưng chung nhất, phổ biến nhất.
 
Do sinh sống ở vùng trung du, mái đồi thấp, nhiều khe, suối nên lũ lụt vào mùa mưa là nỗi lo thường trực của người Mường vì các thung lũng như lòng chảo hứng nước mưa, nước trên các triền núi, dãy đồi ập xuống làm nước dưới thung lũng không kịp tiêu chảy, dâng cao gây nên những trận lũ lụt kinh hoàng.
 
Chính do làm nhà tránh ở gần sông, suối, làm trên cao nên người Mường định cư được ổn định, lâu dài và trong lịch sử đã tránh được nhiều tai ương, thảm hoạ do thiên nhiên mang đến. Việc lập mường, làm nhà trên các mái đồi thoai thoải, không gần các bờ sông, suối đã tránh được những trận lở núi, lở đất kinh hoàng vẫn thường xảy ra ở miền núi, các bờ sông, suối.

 (Còn nữa) 

Bùi Huy Vọng

(Xóm Bưng, xã Hương Nhượng, Lạc Sơn)

 


Các tin khác


Madeleine Colani - người có công phát hiện và đặt tên cho nền Văn hóa Hòa Bình

(HBĐT) - Để tìm hiểu về cuộc đời và những đóng góp lớn lao của nhà nữ khảo cổ học Madeleine Colani - người có công phát hiện và đặt tên cho nền Văn hóa Hòa Bình, chúng tôi được Bảo tàng tỉnh Hòa Bình cung cấp những tài liệu quý về bà. 

Bài 2: Quy hoạch, tên gọi và thành phần cư dân trong các làng Mường cổ trong xã hội cổ truyền


(HBĐT) - Việc tụ cư lập làng Mường theo hình thái trên đây (được nêu ở bài 1) thể hiện rất rõ tính quy hoạch có thể là tự phát song đã thành nếp, truyền thống, một bộ phận cấu thành của văn hoá Mường. Nhìn nhận trong lịch sử có thể thấy rất rõ ý đồ của người Mường xưa, trong điều kiện ban đầu khai mở đất đai, khi đó, dân cư thưa thớt, đất đai bỏ hoang còn nhiều, tại sao người Mường không làm nhà, lập làng ở các vùng đất bằng phẳng mà lại chọn các địa thế mái thoải hay các chân đồi, chân núi?

Bài 2: Nghệ nhân mo Mường


(HBĐT) - Nghệ nhân mo là người nắm giữ các bài mo, có nổ, có các đồ tế khí: Túi khót, gươm, giáo, các loại mũ, áo quần... và là người trực tiếp thực hành diễn xướng mo Mường.

Bài 3: Đặc quyền của lang - đạo và quyền tối thượng đề ra luật lệ, thâu tóm tư liệu sản xuất


(HBĐT) -Trên thực tế, lang - đạo nhất là lang kun chúa đất có những đặc quyền như sau:

Dấu ấn Bác Hồ về thăm Hòa Bình qua những tài liệu, hiện vật lịch sử

(HBĐT) - Chúng tôi có mặt tại buổi khai trương phòng trưng bày chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với tỉnh Hòa Bình” của Bảo tàng tỉnh vào những ngày cả nước có nhiều hoạt động chào mừng kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và tròn 70 năm ngày Bác lần đầu tiên về thăm tỉnh Hòa Bình (1947- 2017). Đây chính là hoạt động có ý nghĩa để tri ân và tưởng nhớ công ơn to lớn cùng những điều dạy bảo quý báu của Người đối với tỉnh ta.

 Bài 2: Nhận diện lang - đạo

(HBĐT) - Nhìn chung, các sử gia, học giả đều có chung nhận định rằng chế độ lang - đạo của người Mường phát triển cực thịnh vào thời Lê và bị đàn áp suy yếu sau cuộc khởi nghĩa Lê Duy Lương. Vua Minh Mạng (trị vì 1820 - 1841) đã có những cải cách quan trọng như: Chia lại các châu, mường ở miền núi, tước bỏ quyền thế tập cha truyền con nối, tước bỏ các đặc quyền của các tù trưởng ở miền núi, trong đó có lang - đạo ở vùng Mường. Tuy vậy, chế độ lang - đạo vẫn dai dẳng tồn tại và chỉ bị đánh đổ khi cách mạng tháng 8 - 1945 thành công, chế độ mới được thiết lập.

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục