(HBĐT) - Vậy là tôi đã thực hiện được ước nguyện đến Côn Đảo - vùng đất huyền thoại, nơi từng là "địa ngục trần gian” kéo dài hàng trăm năm và cũng là vùng đất của sự sống khát khao, mãnh liệt, quật cường. Chẳng vậy mà Côn Đảo đã trở thành trường học cách mạng của biết bao chiến sỹ cộng sản và những người yêu nước. Cùng với hệ thống nhà tù nghiệt ngã thì nghĩa trang Hàng Dương là di tích có giá trị tố cáo tội ác của chế độ thực dân, đế quốc với hàng vạn nấm mộ có tên và không tên. Là nơi yên nghỉ của biết bao người con ưu tú của dân tộc đã bị kẻ thù đầy ải chốn lao tù, xiềng xích, bởi vậy nơi đây đã trở thành địa chỉ giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ.


Đoàn công tác Báo Hòa Bình viếng thăm mộ chị Võ Thị Sáu tại nghĩa trang Hàng Dương - Côn Đảo trong tháng 8 vừa qua.

Chúng tôi không được viếng nghĩa trang Hàng Dương khi đêm xuống bởi những cơn mưa như trút nước trong mùa gió chướng. Song trong ánh bình minh, Hàng Dương linh thiêng, trong trẻo đến lạ. Không có sự u ám, lạnh lẽo mà trái lại nơi nghĩa trang này ấm áp tình người bởi không bao giờ vắng du khách viếng thăm. Trong lòng mọi người là sự cảm phục, tôn kính những người nằm xuống vì độc lập, tự do của dân tộc.

Nghĩa trang Hàng Dương nằm giữa những hàng dương, cát trắng và sóng biển rì rào vỗ bờ cùng những câu chuyện đã thành huyền thoại. Nơi đây có diện tích khoảng 20 ha, là nơi yên nghỉ của hàng vạn chiến sỹ cách mạng và đồng bào yêu nước qua nhiều thế hệ bị tù đầy kéo dài 113 năm dưới sự áp bức tàn bạo của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Theo giới thiệu của hướng dẫn viên Phạm Thùy Chi, nghĩa trang Hàng Dương không phô trương khác với thực tế lịch sử mà hài hòa, hợp với cảnh sắc thiên nhiên vùng biển đảo, gây ấn tượng sâu lắng. Mỗi nắm đất là một dấu tích của bao sự kiện đấu tranh quật cường. Trong 2 cuộc kháng chiến trường kỳ, có trên 20.000 người đã nằm xuống tại Côn Đảo, nhưng đến nay chỉ tìm được 1.922 phần mộ, trong đó có 714 phần mộ tìm được danh tính. Tất cả các mộ phần được quy tập về chôn cất tại Hàng Dương. Những ngôi mộ không được xếp theo hàng lối. Khi xưa tìm được ngôi nào thì xây bia mộ và cốt đá ngay chính chỗ đó chứ không di chuyển hài cốt để những người nằm xuống được mãi yên giấc ngàn thu. Với ngôi mộ biết danh tính thì trên bia được ghi rõ họ tên, quê quán. Những ngôi không biết tên thì chỉ có một ngôi sao. 

Nghĩa trang Hàng Dương được khởi công tôn tạo và xây dựng ngày 19/12/1992, gồm có 4 khu: A, B (B1, B2), C và D. Mỗi khu gắn với từng giai đoạn lịch sử và tên tuổi của các anh hùng liệt sỹ. Khu A gồm 690 ngôi mộ, trong đó có 7 mộ tập thể. 91 mộ có tên, 599 mộ khuyết danh. Đa số các phần mộ từ năm 1945 trở về trước. Khu này có ngôi mộ của cố Tổng Bí thư Lê Hồng Phong, nhà yêu nước Nguyễn An Ninh và anh hùng LLVT nhân dân Vũ Văn Hiếu.

Khu B1 gồm 210 ngôi mộ (14 mộ tập thể), 62 mộ có tên, 148 mộ khuyết danh, đa số từ năm 1945 - 1960. Khu B2 có 485 mộ (3 mộ tập thể), 218 mộ có tên, 267 mộ khuyết danh. Hầu hết các phần mộ từ năm 1945 - 1962. Nơi đây có mộ của các anh hùng LLVTND: Võ Thị Sáu, Cao Văn Ngọc, Lưu Chí Hiếu, Phạm Thành Trung, Hồ Văn Năm, Ngô Đến.

Khu C có 374 ngôi mộ (1 mộ tập thể), trong đó 327 mộ có tên, 47 mộ khuyết danh. Đa số các phần mộ từ năm 1960 - 1975. Khu này có mộ của anh hùng Lê Văn Việt, Nguyễn Thị Hoa, Huỳnh Tấn Lợi, Lê Tự Kình, Phan Đình Tựu.

Khu D gồm 162 ngôi mộ, 15 mộ có tên, 147 mộ khuyết danh. Đặc biệt, đây là nơi quy tập những nấm mộ từ nghĩa trang Hòn Cau, Hàng Keo và rải rác ở các nơi về. Trong khu có ngôi mộ của anh hùng Trần Văn Thời.

Mỗi người đến Côn Đảo không thể không dành thời gian tới nghĩa trang Hàng Dương dâng hương, hoa tri ân những người đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc. Đặc biệt là khu mộ của nữ anh hùng Võ Thị Sáu luôn nghi ngút khói hương, phủ đầy hoa trắng. Sử sách ghi lại, tháng 2/1950, chị Sáu nhận nhiệm vụ ném lựu đạn, tiêu diệt hai chỉ điểm viên của thực dân Pháp là Cả Suốt, Cả Đay, rồi bị bắt. Chị bị địch tuyên án tử hình khi chưa 18 tuổi. Bản án này đã gây chấn động dư luận, vấp phải sự phản đối mạnh mẽ ở Việt Nam và ngay tại nước Pháp. Chính vì vậy, chính quyền quân sự Pháp không thể công khai thi hành bản án. Tháng 1/1952, chúng chuyển chị ra Côn Đảo, giam trong Sở Cò để bí mật thi hành án tử hình khi đã đủ 18 tuổi. Trước hôm bị hành hình, chị Sáu liên tục hát cho bạn tù nghe những bài ca cách mạng. Lúc bị giải ra pháp trường, các bạn tù đứng dậy cùng hát bài Chiến sỹ Việt Nam để bày tỏ lòng cảm phục, tiếc thương và tiễn đưa người đồng đội. Người con gái Đất Đỏ kiên trung, bất khuất đã anh dũng hy sinh ngày 23/1/1952 khi tuổi đời còn quá trẻ. Vậy nên nhiều câu chuyện huyền thoại được lưu truyền, không thể lý giải đã làm cho nhân dân Côn Đảo và nhiều du khách đều tin "Cô Sáu rất linh thiêng”. 

Sâu lặng và cảm phục, tạm biệt Hàng Dương, tôi chưa bao giờ cảm nhận vần thơ trong bài "Truyền thuyết trên đảo Côn Sơn” của nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn lại hay đến thế: "...Tôi quỳ bên ngôi mộ/Dâng đóa hoa trắng trong/Trời cao xanh mênh mông/Biển rộng xa xao động.../Chị Sáu nằm thanh thản/Hàng Dương nghe gió rung/Và bao chuyện lạ lùng/Trong lòng tôi tha thiết/Bỗng như là có thật/Sống mãi cùng thời gian...”.


Hoàng Nga

Các tin khác


Ký sự bản Mông


(HBĐT) - Sống giữa núi rừng Tây Bắc, người dân bản Mông vẫn luôn mạnh mẽ, kiên cường, với khát vọng vươn lên trở thành bản, làng văn minh dựa trên nền tảng truyền thống, là điểm đến hấp dẫn bạn bè phương xa. Bản Mông hôm nay đã khác, đã có những thứ tạo nên sợi dây níu chân người ở lại.
Bài 2 - Hiện thực hóa khát vọng "nảy mầm xanh trên đá”

Ký sự bản Mông

(HBĐT) - "Tôi có may mắn được đặt chân đến nhiều vùng đất, gặp gỡ nhiều con người thuộc nhiều dân tộc khác nhau. Ở mỗi nơi, cái tình của con người lại được thể hiện bằng những cách khác nhau, nhưng họ đều chung sự chân thành. Và ở bản Mông thuộc 2 xã Hang Kia, Pà Cò (Mai Châu) cũng vậy, đã lâu mới quay trở lại, vẫn những con người chân chất, hiền hòa. Bản Mông năm nào nay đã khoác lên mình "chiếc áo” mới của cơ sở hạ tầng khang trang, chất lượng cuộc sống được cải thiện, và hơn thế nữa là sự đoàn kết cộng đồng, tin tưởng vào Đảng, chính quyền của người Mông". Đó là lời tâm huyết từ một sỹ quan quân đội, người con của bản làng, Thiếu tá Hàng A Phứ, Chính trị viên phó Ban CHQS huyện Mai Châu.
Bài 1: "Sinh ra từ làng, phải góp sức cho làng!”

Mo Mường Hòa Bình hướng tới di sản văn hóa thế giới

(HBĐT) - Với những giá trị vô cùng đặc sắc, quý giá, nhưng mo Mường đang đứng trước nguy cơ mai một. Tỉnh đã triển khai các biện pháp bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu này và có những tín hiệu vui trên đường tới di sản văn hóa thế giới.
Bài 2 - Đường tới di sản thế giới

Mo Mường Hòa Bình hướng tới di sản văn hóa thế giới

(HBĐT) - Người Mường ở Việt Nam sống tập trung đông nhất tại tỉnh Hòa Bình. Hòa Bình cũng là cái nôi của nền "Văn hóa Hòa Bình” nổi tiếng, nơi có 63,3% dân số là dân tộc Mường. Suốt chiều dài lịch sử, người Mường đã sáng tạo, chắt lọc, lưu giữ kho tàng di sản văn hóa phong phú, đặc sắc. Trong đó, mo Mường là một hiện tượng văn hóa nổi trội, di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu, đặc biệt, quý giá, có giá trị tư tưởng, nhân văn sâu sắc.
Bài 1 - Khẳng định giá trị tiêu biểu, đặc biệt của mo Mường

Bức tranh cuộc sống mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số

(HBĐT) - Chất lượng cuộc sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đã được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm, xuất hiện ngày càng nhiều hộ làm kinh tế giỏi. Tuy nhiên, để vùng đồng bào DTTS phát triển đồng đều, thu hẹp khoảng cách với vùng thuận lợi, thì cả hệ thống chính trị cần quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, nhằm hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững tại các xã vùng sâu, xa, vùng đặc biệt khó khăn (ĐBKK).
Bài 2 - Nâng cao chất lượng đời sống người dân 

Bức tranh cuộc sống mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số

(HBĐT) - Là cửa ngõ vùng Tây Bắc, tỉnh Hòa Bình có dân số trên 83 vạn người, với 6 dân tộc chủ yếu là: Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông… trong đó, dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm 74,31%. Trong những năm qua, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về quan tâm, hỗ trợ phát triển vùng đồng bào DTTS, tỉnh đã có nhiều giải pháp, hoạt động cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đời sống vùng đồng bào DTTS, thúc đẩy KT - XH phát triển, góp phần đảm bảo ANCT - TTATXH địa phương.
Bài 1: Ưu tiên nguồn vốn đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục