(HBĐT) - Tiếng nói, chữ viết là công cụ tư duy và là phương tiện giao tiếp để thể hiện, lưu giữ, truyền bá tri thức phản ánh bản sắc của cá nhân và cộng đồng. Đây còn là hồn cốt của mỗi dân tộc. Việc bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số (DTTS) là cấp thiết để giữ gìn bản sắc văn hóa, thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Công tác bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết của các DTTS là một trong những chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước.


Nghệ nhân Lường Đức Chôm, xã Trung Thành (Đà Bắc) lưu trữ số được gần 300 cuốn sách của người Tày.

Phục dựng chữ Mường

Hòa Bình có 6 DTTS chủ yếu sinh sống phân bố rải rác ở 10 huyện, thành phố. Mỗi dân tộc đều có tiếng nói riêng, nhưng chữ viết thì còn ít người biết đến. Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về việc bảo tồn tiếng nói, chữ viết DTTS, nhiều chính sách cụ thể liên quan đến bảo tồn và phát triển tiếng nói, chữ viết dân tộc được cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm. Từ năm 2015, Sở KH&CN đã phối hợp Viện Ngôn ngữ học (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức nghiên cứu, thực hiện đề tài khoa học "Xây dựng bộ chữ viết dân tộc Mường phục vụ cho việc bảo tồn, phát huy văn hóa Mường tại tỉnh Hòa Bình”. UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2296/QĐ-UBND về việc phê chuẩn bộ chữ dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình. Theo đó, bộ chữ dân tộc Mường gồm 28 chữ cái; 24 phụ âm đầu; 1 âm đệm. Tiếng Mường có 14 nguyên âm, gồm 11 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi. Âm cuối tiếng Mường gồm 9 phụ âm và 2 bán nguyên âm. Tiếng Mường có 5 thanh điệu, 152 vần… Đồng thời, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 118/KH-UBND về việc triển khai ứng dụng bộ chữ dân tộc Mường tại tỉnh, mục đích đưa bộ chữ Mường được phê chuẩn vào đời sống dân tộc Mường; khẳng định bộ chữ Mường là chữ viết chính thức của dân tộc Mường và góp phần bảo tồn, phát huy văn hóa của dân tộc Mường tại tỉnh. Phê duyệt Đề án dạy và học tiếng dân tộc Mường giai đoạn 2018 - 2025, tầm nhìn đến năm 2035 trên địa bàn tỉnh. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đã in và phát hành cuốn tài liệu hướng dẫn dạy tiếng nói, chữ viết âm vị tiếng Mường, mã bộ gõ Unikey tiếng Mường; hướng dẫn học chữ Mường, đọc hiểu tiếng Mường. Đến nay, việc học và sử dụng chữ Mường đã được phổ biến, điển hình trên Báo Hòa Bình điện tử có phiên bản chữ Mường nhằm bảo tồn, phổ biến chữ Mường rộng rãi.

"Giữ" chữ cha ông

Người dân tộc Tày sống phổ biến ở những xã vùng cao của huyện Đà Bắc, từ lâu đã có chữ viết riêng được sử dụng trong các sách cổ về tâm linh, truyện cổ, thơ ca, hò vè... Những văn bản đó được lưu trữ rải rác ở một số gia đình. Tuy nhiên, người đọc, viết chữ Tày ngày càng ít. Chủ yếu là người già, con thầy nho. Để không bị mất đi chữ viết, bản sắc của dân tộc, hơn 50 năm nay, ông Lường Đức Chôm ở xóm Bay, xã Trung Thành (Đà Bắc) đã lặn lội tìm hiểu, sưu tầm nhiều văn bản của người Tày, từ những cuốn sách viết xem ngày tháng để xây nhà, dựng vợ gả chồng đến quyết định bổ nhiệm chủ tịch xã hiện nay. Thành quả của ông sau nhiều năm sưu tầm là gần 300 cuốn sách với đủ các thể loại được lưu trữ số. Ông đã được Chủ tịch nước tặng danh hiệu "Nghệ nhân Ưu tú" trong gìn giữ, phát huy di sản văn hóa phi vật thể và Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen. Ông đã tham mưu Phòng GD&ĐT huyện tổ chức được 2 lớp dạy và học chữ dân tộc Tày. Từ lớp học của ông, các học viên đã dạy hàng trăm học sinh ở 8 xã của huyện Đà Bắc đọc thông, viết thạo chữ Tày. Ông chia sẻ: Qua sách, qua những văn bản lưu trữ bằng chữ Tày con cháu mới biết đời sống tinh thần của người Tày. Nếu chỉ có tiếng nói thì theo thời gian những người cao tuổi dần mất đi, hoặc không còn nhớ kể lại cho con cháu thì phong tục tập quán, những câu truyện dân gian, hò vè, nghi lễ… sẽ dần mất đi. Nếu không có chữ, không có sách lưu trữ con cháu sẽ không biết được. Đơn giản như chuyện đi mời cưới của người Tày xưa. Người mời đến nhà phải giới thiệu cho người được mời từ gia đình thân thế, hoàn cảnh gia đình chú rể cô dâu, rồi khi khách đến tiếp đón như nào, tham gia hoạt động gì của gia đình, chú rể và cô dâu quen biết nhau, yêu nhau lấy nhau… Tất cả lời mời được đưa vào câu hò, vè theo vần, nhịp khi đến mời. Hay việc mời nhau chén rượu. Trước khi mời thì gia chủ phải giới thiệu đây là rượu gì, lấy gạo ở đâu, ngâm ủ thế nào, ai nấu… và cũng được đưa vào câu xướng. Qua chữ viết cũng lưu lại nhiều giá trị văn hóa của người Tày cổ như khi quyết định bổ nhiệm chủ tịch xã thì người đứng đầu được quản lý bao nhiêu người dân, đất đai chỉ rõ ranh giới, quản lý người dân không vào rừng khai thác lâm sản bừa bãi mà giữ cho cây sinh trưởng… Càng sưu tầm ông càng thấy cái hay, cái đẹp của văn hóa người Tày được lưu trữ từ chữ viết. Chia sẻ những dự định trong tương lai ông cho biết: Tôi đang hoàn thiện các thủ tục xin gia nhập Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và in các cuốn sách mình đã sưu tầm hơn 50 năm nay. Cùng với đó sẽ tham mưu cho Phòng GD&ĐT huyện đưa môn chữ Tày vào dạy ở các trường phổ thông có người Tày sinh sống. Qua đó mong muốn văn hóa của người Tày trường tồn theo thời gian.

Cộng đồng người Dao sinh sống trên địa bàn tỉnh đa dạng nhóm người, chữ viết có từ lâu đời. Trong những năm qua, ông Triệu Văn Hội, xóm Cha, xã Toàn Sơn (Đà Bắc) là một trong những người con dân tộc Dao có nhiều công sức trong công tác dạy và học chữ của người Dao. Ông được UBND tỉnh tặng danh hiệu "Nghệ nhân Ưu tú" với thành tích lưu trữ và bảo tồn chữ viết của người Dao. Sau nhiều năm học, sưu tầm ông đã mở 1 lớp học cho 50 học viên, phần lớn là học sinh phổ thông. Sau 3 năm học, các học viên đọc thông viết thạo. Từ lớp học đầu tiên đã khơi dậy tinh thần gìn giữ bản sắc văn hóa của những trí thức người Dao ở xã Toàn Sơn. Nhiều người khi biết chữ đã dạy lại cho con cháu và sưu tầm những văn bản cổ. Ông Hội cho biết: Chữ viết là một di sản văn hóa quý báu, gắn liền với các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người Dao. Tôi mong muốn có nhiều học viên hơn nữa, truyền đạt cho thế hệ tương lai chữ viết và văn hóa của người Dao để không mất đi những gì mà ông cha truyền lại. Các cấp chính quyền địa phương tạo điều kiện học chữ viết, nghiên cứu, sưu tầm làm cơ sở cho việc lưu giữ lâu dài và phát huy giá trị của di sản này.

(Còn nữa)


Nhóm P.V Phòng Văn hóa - Xã hội


Các tin khác


Mô hình hoạt động nào phù hợp đối với chi bộ đông đảng viên?: Bài 2 - Nhiều khó khăn phát sinh đối với chi bộ đông đảng viên

(HBĐT) - Hoà Bình là tỉnh miền núi, dân cư sống thưa thớt, sau sáp nhập xóm, tổ dân phố, nhiều xóm, khu dân cư mới có diện tích rộng, đảng viên (ĐV) đông lại sống rải rác gây không ít khó khăn trong công tác quản lý ĐV. Ngoài ra, vì ĐV quá đông, cơ sở vật chất các nhà văn hóa khu dân cư chật hẹp ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sinh hoạt chi bộ. Vấn đề xếp loại chất lượng sinh hoạt và đánh giá, xếp loại chi bộ hàng năm ở những chi bộ đông ĐV cũng bộc lộ nhiều bất cập.

Mô hình hoạt động nào phù hợp đối với chi bộ đông đảng viên?: Bài 1 - Chi bộ đông đảng viên - mỗi chi bộ một mô hình vận hành

(HBĐT) - Thực hiện việc sáp nhập, kiện toàn xóm, tổ dân phố và sắp xếp, tinh gọn bộ máy các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp trên địa bàn tỉnh, số chi bộ đảng trực thuộc đảng ủy cơ sở, đảng bộ bộ phận giảm khá nhiều. Tuy nhiên, số lượng đảng viên (ĐV) tại các chi bộ mới sáp nhập, kiện toàn lại tăng lên gấp đôi, thậm chí gấp 3, hình thành các chi bộ có số ĐV rất đông. Theo số liệu thống kê của Ban Tổ chức Tỉnh ủy, tính đến ngày 15/7/2022, toàn tỉnh có 3.181 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở, đảng bộ bộ phận. Trong đó, 138 chi bộ có từ 50 - 100 ĐV (136 chi bộ khu dân cư, 2 chi bộ ở đơn vị sự nghiệp). Đặc biệt, có 3 chi bộ khu dân cư có trên 100 ĐV. Công tác vận hành, tổ chức sinh hoạt chi bộ, triển khai công việc ở các chi bộ có số ĐV đông đang đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm. 

Bài 5 - Gìn giữ, phát huy những "báu vật" của cha ông

(HBĐT) - Trong kho tàng di sản văn hoá (DSVH) dân tộc Mường, nếu mo Mường được xem là một sáng tạo vĩ đại thì chiêng Mường chính là báu vật của người Mường. Chiêng Mường cùng với sáo ôi, đàn nhị, trống da trâu... đã tạo nên âm nhạc Mường với những nét độc đáo, uyển chuyển và duyên dáng. Ngày nay, nghệ thuật chiêng Mường và âm nhạc dân tộc Mường được bảo tồn, phát huy tạo nên những giá trị tinh thần nhân văn cao đẹp trong cộng đồng người Mường, đồng thời làm phong phú, đa dạng thêm cho nền âm nhạc dân gian Việt Nam. Thành tựu đó có được trước hết là nhờ những nghệ nhân xứ Mường đã dành cả cuộc đời gìn giữ, phát huy những "báu vật” của ông cha để lại.

Bài 4 - Nâng niu lời ru đất Mường

(HBĐT) - Dân ca là một loại hình văn nghệ quen thuộc và gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt, lao động, sản xuất hàng ngày của Nhân dân các dân tộc. Lời ca ngọt ngào, sâu lắng, gần gũi đã nuôi dưỡng tâm hồn của biết bao thế hệ. Bằng tâm huyết và niềm đam mê, các nghệ nhân hát dân ca của tỉnh đang ra sức bảo tồn, gìn giữ, phát huy giá trị của những làn điệu dân ca, lan tỏa mạnh mẽ trong cuộc sống đương đại, để nét văn hóa truyền thống của dân tộc sống mãi với thời gian.

Bài 2 - Nghệ nhân mo Mường và tâm huyết trao truyền di sản

(HBĐT) - "Từ khi được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân ưu tú”, tôi ý thức sâu sắc rằng vinh dự này phải gắn liền với trách nhiệm. Trách nhiệm của nghệ nhân mo Mường (NNMM) chúng tôi là phải phát huy giá trị của di sản bằng cách gìn giữ và trao truyền cho thế hệ sau. Chỉ khi hoàn thành xong tâm huyết trao truyền di sản, nghệ nhân chúng tôi mới yên lòng về với Mường Ma…” - nghệ nhân Bùi Văn Lựng, xóm Mường Lầm, xã Phong Phú (Tân Lạc) trải lòng.

Tôn vinh những nghệ nhân xứ Mường: Bài 1 - Động lực cho những “báu vật nhân văn sống”

(HBĐT) - Trải qua bao thăng trầm lịch sử, giá trị di sản văn hoá (DSVH) các dân tộc không bị mất đi mà được bảo tồn, phát huy tạo nên bức tranh đa màu sắc. Công lao trên trước hết thuộc về những nghệ nhân có vai trò nắm giữ, trao truyền. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, họ đang thực hiện sứ mệnh lưu truyền tinh hoa văn hoá truyền thống trong dòng chảy văn hóa Việt.

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục