(HBĐT) - Hiện, toàn tỉnh có 459.063 ha đất tự nhiên, trong đó, 298.013 ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp (chiếm 64,66%). Diện tích đất quy hoạch rừng sản xuất là 149.492 ha (chiếm 51,7% tổng diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp). Sản xuất lâm nghiệp góp phần xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, thu nhập cho dân cư nông thôn. Bên cạnh giá trị kinh tế, sản xuất lâm nghiệp còn có vai trò đảm bảo độ che phủ rừng (trên 50%), duy trì nguồn nước, chống xói mòn, cân bằng môi trường sinh thái, thúc đẩy ngành du lịch phát triển và đảm bảo AN-QP.

 


Vườn ươm gia đình anh Bùi Văn Thạch, thôn Sỏi, xã Phú Thành(Lạc Thủy) lựa chọn những giống cây lâm nghiệp tốt để phục vụ trồng rừng.
 
Trồng rừng tạo sinh kế bền vững

Giờ đây, đất trống, đồi trọc trên địa bàn tỉnh được phủ bằng màu xanh của những đồi keo, bạch đàn... Đó là thành quả của nhiều năm tháng miệt mài trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc của người dân. Đối với người dân tại nhiều địa phương, trồng rừng là kế sinh nhai để xây dựng cuộc sống no ấm. Dưới những tán rừng xanh đang trỗi dậy đầy sức sống là những ngôi nhà khang trang mới xây.

Lạc Thủy là mảnh đất có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển lâm nghiệp. Huyện có tổng diện tích đất lâm nghiệp 17.305,78 ha, trong đó, đất có rừng 14.340,55 ha, đất chưa có rừng 2.965,23 ha; rừng sản xuất 10.015,79 ha, rừng phòng hộ 7.289,99 ha. Người dân Lạc Thủy bắt đầu trồng rừng từ những năm 1990, rừng được trồng nhiều tại các xã: Đồng Tâm, Phú Thành, An Bình, Hưng Thi… Thực hiện tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, huyện phát triển theo hướng tăng diện tích trồng cây gỗ lớn. Từng bước nâng cao chất lượng, giá trị rừng theo hướng chuyển từ khai thác gỗ non sang khai thác gỗ lớn. Cấp ủy, chính quyền huyện đã triển khai đồng bộ các dự án về trồng rừng, quản lý, bảo vệ rừng. Người dân lựa chọn những giống cây trồng có chất lượng tốt, phù hợp thổ nhưỡng; trồng rừng đúng thời vụ, bón phân, làm cỏ đúng quy trình, kéo dài chu kỳ trồng. Nhờ vậy, rừng sản xuất của huyện có năng suất, chất lượng cao. Năm 2019, toàn huyện trồng được 480 ha cây gỗ lớn. Năm 2020, phấn đấu trồng được 500 ha cây gỗ lớn. 6 tháng đầu năm nay, toàn huyện đã trồng 465,46 ha rừng; 39.000 cây phân tán; khai thác được 501,86 ha rừng trồng, sản lượng đạt 48.603 m3 gỗ, củi các loại. Thu nhập từ khai thác rừng đạt hơn 35 tỷ đồng.

 Giờ đây, xã An Bình ngút ngàn màu xanh của rừng, không khí mát lành, thấp thoáng dưới tán rừng là những ngôi nhà xây kiên cố, khang trang. Đồng chí Quách Công Mười, Chủ tịch UBND xã An Bình phấn khởi chia sẻ: Từ phong trào "Phủ xanh đất trống đồi núi trọc”, từng tấc đất ở An Bình đã khoác lên mình màu xanh đầy sức sống. Toàn xã có tổng diện tích rừng 1.850,5 ha, trong đó, rừng sản xuất 1.150,1 ha, rừng phòng hộ 700,4 ha. Cấp ủy, chính quyền các cấp cùng các sở, ngành đã triển khai nhiều chương trình, dự án phát triển rừng trên địa bàn xã như: Dự án FAM 3352; dự án FAM 327, dự án trồng keo lai cấy mô, chương trình hỗ trợ rừng và trang trại (FFF) do Hội Nông dân tỉnh triển khai với chu kỳ từ 7 - 10 năm, thu nhập bình quân đạt từ 100 - 120 triệu đồng/ha. Trên địa bàn xã có nhiều hộ trồng trên 10 ha rừng như: Quách Văn Thuyến, Bùi Văn Xuân (thôn Ninh Ngoại), Đinh Văn Kệ (thôn Đại Đồng)... 

Nhằm phát huy hiệu quả từ rừng, các địa phương còn khuyến khích người dân tận dụng tán rừng để nuôi gà, dê, nuôi ong lấy mật... Nhiều hộ mạnh dạn đầu tư vốn, áp dụng khoa học kỹ thuật, hình thành mô hình kinh tế trang trại lâm nghiệp, trang trại tổng hợp cho thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm. Bên cạnh đó, toàn tỉnh có 188 cơ sở chế biến lâm sản (38 tổ chức, doanh nghiệp và 150 cá nhân, hộ gia đình). Các cơ sở chế biến lâm nghiệp phát triển và hoạt động hiệu quả góp phần tiêu thụ gỗ cho người dân, đồng thời giải quyết việc làm cho nhiều lao động. 

Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm,    từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã trồng được 3.752,06 ha rừng, diện tích rừng trồng mới 639,44 ha, trồng lại sau khai thác 3.112,62 ha. Trồng cây phân tán 602.600 cây các  loại. Toàn tỉnh khai thác 2.935,64 ha rừng, khối lượng 176.977,25 m3 gỗ, 101.751,3 ste củi, khai thác từ cây phân tán được 3.071 m3; 887.210 cây bương, tre, luồng; 2 tấn nhựa thông; 563,5 tấn măng tươi; 79,83 tấn dược liệu; 2.165 kg mật ong... Tổng thu nhập từ rừng và đất lâm nghiệp của các tổ chức, hộ gia đình trên địa bàn tỉnh đạt 281,890 tỷ đồng.

Hướng tới phát triển bền vững rừng sản xuất

 Đồng chí Nguyễn Huy Nhuận, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết: Phát triển rừng sản xuất góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, hiệu quả sản xuất lâm nghiệp còn chưa cao, rừng trồng chủ yếu là keo, chu kỳ 5 - 6 năm, năng suất gỗ đạt 65 m3/ha, giá bán 800 nghìn đồng/m3, giá trị sản phẩm thu được trung bình đạt 10,4 triệu đồng/ha/năm, tương đương 8% giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha so với canh tác đất trồng trọt. Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 77% đất nông nghiệp, song đóng góp cho tăng trưởng ngành nông, lâm, thủy sản chỉ đạt 11,2%. Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên do người dân còn sử dụng giống có nguồn gốc, xuất xứ kém chất lượng. Phổ biến tình trạng khai thác rừng non; diện tích thực hiện phương thức quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ FSC còn thấp (có 11,5 nghìn ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC, chiếm 17% tổng diện tích rừng trồng).

Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 phải nâng cao giá trị sản xuất, kinh doanh, phát triển bền vững rừng sản xuất, trồng rừng trên cơ sở hình thành chuỗi liên kết từ trồng, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, nhằm nâng cao giá trị tăng thêm ngành lâm nghiệp, khả năng cạnh tranh sản phẩm và phát triển rừng bền vững. Phấn đấu đến năm 2025, duy trì độ che phủ rừng hàng năm trên 50%; trung bình mỗi năm có 3 nghìn ha rừng trồng gỗ nhỏ được chuyển hóa sang kinh doanh gỗ lớn; 6 nghìn ha rừng trồng mới thâm canh gỗ lớn bằng giống chất lượng cao; 50% diện tích rừng sản xuất là rừng trồng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC; năng suất rừng trồng tăng lên 1,3 lần, sản lượng gỗ đạt trung bình 150 m3/ha/chu kỳ gỗ lớn, giá trị thu được bình quân mỗi năm trên 1 ha đất rừng trồng sản xuất tăng gấp 2,5 lần (khoảng 25 triệu đồng/ha/năm); tỷ trọng ngành lâm nghiệp chiếm 16% tăng trưởng ngành.

Để đạt được mục tiêu đề ra, tỉnh cần triển khai thực hiện đồng bộ hệ thống cơ chế, chính sách hiện có của T.Ư và địa phương đối với phát triển lâm nghiệp. Khuyến khích hỗ trợ doanh nghiệp chế biến vào đầu tư; thành lập các HTX lâm nghiệp; liên doanh liên kết, trao đổi, chuyển nhượng, góp vốn bằng quyền sử dụng rừng, đất rừng, nhằm thực hiện dồn điền, đổi thửa, tạo ra các vùng sản xuất quy mô lớn. Tích cực tuyên truyền, vận động người dân đầu tư thâm canh, kéo dài chu kỳ kinh doanh, nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng sản xuất bằng việc sử dụng cây giống chất lượng cao; thay đổi thói quen khai thác rừng non (gỗ nhỏ) sang sản xuất, kinh doanh gỗ lớn, phục vụ công nghiệp chế biến gỗ hướng đến xuất khẩu. Đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ, cơ giới hoá trong trồng, chăm sóc, khai thác rừng trồng. Hướng dẫn, khuyến khích mở rộng sản xuất và quản lý theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững…

Thu Thủy

Các tin khác


Nhịp sống mới ở những vùng đất khó

(HBĐT) - Hệ thống hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường học, trạm y tế được quan tâm đầu tư xây dựng đã giúp bộ mặt nhiều vùng quê trong tỉnh khởi sắc, tiến nhanh hơn trong hành trình xây dựng nông thôn mới. Những con đường mới đã đem đến không khí hân hoan để bà con vui Tết Độc lập.

Ký sự bản Mông


(HBĐT) - Sống giữa núi rừng Tây Bắc, người dân bản Mông vẫn luôn mạnh mẽ, kiên cường, với khát vọng vươn lên trở thành bản, làng văn minh dựa trên nền tảng truyền thống, là điểm đến hấp dẫn bạn bè phương xa. Bản Mông hôm nay đã khác, đã có những thứ tạo nên sợi dây níu chân người ở lại.
Bài 2 - Hiện thực hóa khát vọng "nảy mầm xanh trên đá”

Ký sự bản Mông

(HBĐT) - "Tôi có may mắn được đặt chân đến nhiều vùng đất, gặp gỡ nhiều con người thuộc nhiều dân tộc khác nhau. Ở mỗi nơi, cái tình của con người lại được thể hiện bằng những cách khác nhau, nhưng họ đều chung sự chân thành. Và ở bản Mông thuộc 2 xã Hang Kia, Pà Cò (Mai Châu) cũng vậy, đã lâu mới quay trở lại, vẫn những con người chân chất, hiền hòa. Bản Mông năm nào nay đã khoác lên mình "chiếc áo” mới của cơ sở hạ tầng khang trang, chất lượng cuộc sống được cải thiện, và hơn thế nữa là sự đoàn kết cộng đồng, tin tưởng vào Đảng, chính quyền của người Mông". Đó là lời tâm huyết từ một sỹ quan quân đội, người con của bản làng, Thiếu tá Hàng A Phứ, Chính trị viên phó Ban CHQS huyện Mai Châu.
Bài 1: "Sinh ra từ làng, phải góp sức cho làng!”

Mo Mường Hòa Bình hướng tới di sản văn hóa thế giới

(HBĐT) - Với những giá trị vô cùng đặc sắc, quý giá, nhưng mo Mường đang đứng trước nguy cơ mai một. Tỉnh đã triển khai các biện pháp bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu này và có những tín hiệu vui trên đường tới di sản văn hóa thế giới.
Bài 2 - Đường tới di sản thế giới

Mo Mường Hòa Bình hướng tới di sản văn hóa thế giới

(HBĐT) - Người Mường ở Việt Nam sống tập trung đông nhất tại tỉnh Hòa Bình. Hòa Bình cũng là cái nôi của nền "Văn hóa Hòa Bình” nổi tiếng, nơi có 63,3% dân số là dân tộc Mường. Suốt chiều dài lịch sử, người Mường đã sáng tạo, chắt lọc, lưu giữ kho tàng di sản văn hóa phong phú, đặc sắc. Trong đó, mo Mường là một hiện tượng văn hóa nổi trội, di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu, đặc biệt, quý giá, có giá trị tư tưởng, nhân văn sâu sắc.
Bài 1 - Khẳng định giá trị tiêu biểu, đặc biệt của mo Mường

Bức tranh cuộc sống mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số

(HBĐT) - Chất lượng cuộc sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đã được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm, xuất hiện ngày càng nhiều hộ làm kinh tế giỏi. Tuy nhiên, để vùng đồng bào DTTS phát triển đồng đều, thu hẹp khoảng cách với vùng thuận lợi, thì cả hệ thống chính trị cần quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, nhằm hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững tại các xã vùng sâu, xa, vùng đặc biệt khó khăn (ĐBKK).
Bài 2 - Nâng cao chất lượng đời sống người dân 

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục