(HBĐT) - "Khi đó xóm có hơn 30 nóc nhà nhưng có tới 9 người chết nên dân làng chạy tán loạn, mỗi người một hướng để tránh nạn. Chuyển đến nơi ở mới thì đời sống quá khổ, tôi đành trở về xóm dù rấõt sợ hãi. Mãi sau này, khi hoạn nạn qua đi, dân làng quay trở về mới có xóm Thín với nhiều đổi khác như hôm nay”. Những ký ức kinh hoàng của 30 năm về trước vẫn in đậm trong tâm trí của ông Đặng Văn Giang và người dân xóm Thín, xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc.


Ngày nay, xóm Thín, xã Vầy Nưa (Đà Bắc) đã có nhiều đổi thay với đường bê tông sạch đẹp và những ngôi nhà xây kiên cố.

 Những tháng ngày đen tối, đói khổ của xóm Thín dần lùi xa vào quá khứ, trở thành những ký ức mà người dân nơi đây thi thoảng vẫn kể cho con cháu nghe. Thín của ngày hôm nay đã đông vui với hơn 40 hộ dân san sát trong khung cảnh thật yên bình. Về Thín trong những ngày cuối năm trời lạnh buốt, con đường nhựa cũng trở nên trơn trượt…

Gặp "gã khùng” năm ấy…

Sương mù dày đặc, ngoài trời lạnh dưới 100C, ông Đặng Văn Giang cùng vợ, con và các cháu đang ngồi quanh bếp lửa sưởi ấm. Năm đó, ông Giang là một trong hai người được dân làng coi như những "gã khùng” vì dám quay trở lại sống ở mảnh đất mà họ cho rằng đã bị ma ám. Ký ức về những ngày đen tối đó, ông Giang không thể nào quên. ông tâm sự: Trước năm 1986, tuy đời sống khó khăn nhưng chưa bao giờ xóm gặp chuyện tai họa như vậy. Cuối năm 1987, căn bệnh sốt rét đã cướp đi sinh mạng của 9 người, có nhà mất 2 người thân chỉ trong ít ngày. Do dân trí thấp nên ốm đau có thuốc thang như bây giờ đâu, toàn cúng bái, rồi đi bói toán lại càng ra nhiều ma quỷ, có nhà thịt hết lợn, gà, trâu, bò để cúng ma mà bệnh tình không thuyên giảm. Quá hoảng sợ, bà con bỏ lại nhà cửa để chạy đến nơi khác sinh sống. Khi đó, gia đình tôi cũng chạy vào Lau Bai (cùng xã) nhưng ở được khoảng hai tuần thì không thể nào chịu được. Ban ngày lên rừng đào củ vớn, củ mài mà không đủ ăn, đêm thì không ai dám ra đường. Người ngợm ốm yếu, nếu tiếp tục sống vật vờ như vậy thì trước sau cũng chết.

Nghĩ vậy, ông Giang quyết định trở lại xóm cũ dù khá sợ hãi, đặc biệt là sự phản đối kịch liệt từ người cha. "Bố tôi phản đối kịch liệt, ông bảo, trở lại thì chẳng khác nào đâm đầu vào chỗ chết rồi ma quỷ nó sẽ bắt đi. ông còn phá cả nhà để chúng tôi không có chỗ ở nếu trở về nhưng tôi vẫn kiên quyết về và dựng lều nứa ở tạm”, ông Giang cho biết. Trở về, hai vợ chồng ông Giang cùng ba đứa con sống lay lắt trong căn lều tạm bợ. "Tôi bị bệnh tim lại bị ám ảnh bởi tiếng chó sủa, tiếng quạ kêu nên chẳng có đêm nào ngủ trọn giấc. Nhưng vợ chồng động viên nhau, cấp trên cũng về tuyên truyền nên cố gắng bám trụ. Đến khi dịch bệnh qua đi, một số hộ khác cũng không chịu được đói khổ nên dần dần trở về làng”, bà Lý Thị Thanh, vợ ông Giang nhớ lại.

Anh Đặng Văn Long, con trai ông Giang khi đó mới là đứa trẻ lên 10 nhưng đã phải trải qua quãng thời gian chông chênh nhất của cuộc đời. Anh Long tâm sự: "Nếu không có sự liều lĩnh đó thì không biết có chết vì bị ma quỷ bắt hay không nhưng chắc chắn sẽ chết mòn vì đói, vì rét. Sau này, đến những năm 1992 – 1993, bản làng mới đông đúc trở lại. Đến nay, với sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước, sự thay đổi về nhận thức, đời sống của chúng tôi đã có nhiều sự chuyển biến tích cực”.

Sau bão giông, Xóm Thín sáng lên từng ngày

Sự chuyển biến tích cực mà anh Long chia sẻ có thể nhận thấy rõ khi chúng tôi bước chân đến bản Dao này. Thín của ngày hôm nay đã có 41 hộ dân quây quần bên nhau cùng chung sống, con đường đất, đá lởm chởm ngày nào giờ được bê tông hóa phẳng phiu. "Từ năm 1997, xóm được Nhà nước quan tâm mở đường giao thông thuận lợi rồi xây dựng trường học. Đặc biệt, năm 2003, ánh điện lưới về đã tạo ra cú huých lớn để bà con phát triển kinh tế, từng bước xóa đói, giảm nghèo. Những hộ rời xóm trước đây đến năm 2004 đều quay về xóm sinh sống, làm ăn. Nhờ cây ngô, nhờ rừng mà đời sống của nhiều hộ đã khá giả. Những ngôi nhà xây kiên cố kia cũng là từ cây ngô mà làm được”, anh Triệu Văn Hợp, phó xóm Thín chia sẻ khi đưa chúng tôi đi tham quan quanh xóm.

Anh Hợp liệt kê ra không ít cái tên đã có được cuộc sống an cư, lạc nghiệp sau khi trở về Thín. Ví như gia đình trưởng xóm Đặng Văn Vinh trước đây phải chạy vào Bó Nẻ, nay quay về, nhờ chịu khó làm ăn đã xây được căn nhà xây hai tầng khang trang nhất xóm. Chuyến hồi hương của gia đình ông Bàn Văn Khoa cũng là cuộc trở về đầy niềm vui no ấm. Căn nhà hai tầng khang trang vẫn còn thơm mùi vôi vữa ở đầu xóm chính là minh chứng – Thín là "đất lành” để bà con người Dao an cư, lạc nghiệp. Hay trường hợp của anh Đặng Văn Long, con trai của "gã khùng” Đặng Văn Giang ngày nào giờ đã cưới vợ, sinh con và xây dựng cho mình được cơ ngơi khiến nhiều người thán phục. "Mặc dù vợ nó hay đau ốm nhưng chúng nó tu chí làm ăn nên cũng xây được nhà cửa khang trang rồi. Nếu cứ đổ lỗi cho con ma rồi bỏ làng mà đi thì làm sao có được cuộc sống như ngày hôm nay”, ông Giang phấn khởi.

Trong câu chuyện với chúng tôi, ông Giang trải lòng rất nhiều. ông nói về đám cưới, đám hiếu, về tục cấp sắc của bản Dao đã và đang thay đổi theo hướng văn minh, hiện đại. Những hủ tục lạc hậu xưa kia nếu có mười phần thì nay đã bớt 7 – 8 phần. ông Giang cho rằng: "Đường và điện là hai cái quan trọng nhất giúp đời sống vật chất và tinh thần, sự hiểu biết của bà con ngày càng được nâng lên. Chuyện bỏ làng trước kia cũng là do đường xa, ốm đau cứ nằm ở nhà cúng bái rồi bói toán thì ra ma, ra quỷ. Ngày nay, người Dao thay đổi rồi, ốm đau thì đi bệnh viện, bây giờ, việc khám, chữa bệnh ngày càng thuận lợi hơn”.

Bản làng tưởng chừng như "chết” ngày nào giờ hồi sinh mạnh mẽ, bà con nơi đây đang cần mẫn, tu chí làm ăn để đón thêm những mùa xuân no ấm.

 

                                                                               Viết Đào

Các tin khác


Trường Sa Đông - mặc sóng gió, mãi hiên ngang trước biển

(HBĐT) - Mặc dù trước khi lên đảo, chúng tôi được nghe kể nhiều về Trường Sa Đông. Nhưng quả thật, khi xuồng còn chưa cập đảo, tôi đã choáng ngợp trước màu xanh của cây cối hoà trong sắc xanh vời vợi của trời và màu nước xanh thăm thẳm của biển cả...

Ký sự Trường Sa Bài 6 - “đẹp dịu dàng tiên nữ - an bang”

(HBĐT) - "Tôi muốn ôm ghì bãi san hô/Vang vọng về con sóng Bạch Đằng Giang/Một màu xanh Sinh Tồn, Song Tử/Đẹp dịu dàng tiên nữ An Bang/Bao xương máu đắp hình hài Tổ quốc/Vang vọng về dòng máu Lạc Hồng xưa...”, lời bài hát "Bâng khuâng Trường Sa” của tác giả Lê Đức Hùng mỗi sáng sớm được phát trên hệ thống phát thanh của tàu Trường Sa 571 đọng lại thật nhiều cảm xúc. Giữa trùng khơi dữ dằn sóng gió, chúng tôi vẫn thấy vẻ đẹp dịu dàng nơi điểm đảo cực Đông và cực Nam trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Tổ quốc...

Cô Lin, Sinh Tồn vững vàng nơi “mắt bão”

(HBĐT) - Cô Lin, Sinh Tồn - điểm đến đầu tiên của cuộc hải trình của đoàn công tác số 11 đến thăm, động viên quân và dân trên quần đảo Trường Sa và nhà giàn DK1. Nhìn trên bản đồ, Cô Lin, Sinh Tồn chỉ nhỏ như một vết chấm nhỏ, song đã đi vào lịch sử nước nhà bằng những chiến công bi tráng trong chiến dịch bảo vệ chủ quyền năm 1988 của CBCS Hải quân nhân dân Việt Nam.

Bài 5: Bất tử Gạc Ma

(HBĐT) - Cũng giống như tất cả các cuộc hải trình đến với Trường Sa trước đây, điểm đến đầu tiên của chúng tôi không phải là điểm đảo. Mà là một cuộc tưởng niệm những người lính đã hy sinh vì chủ quyền biển đảo tại Gạc Ma ngày 14/3/1988. Dù đã 30 năm, nhưng nước mắt vẫn chưa ngừng rơi...

Bài 4 – Cuộc hành trình đi về phía mặt trời

(HBĐT) - Cho đến bây giờ, trong chuyến hải trình cùng con tàu Trường Sa 571, tôi mới hiểu tại sao trong suốt bao nhiêu năm qua, anh bạn học cùng Đại học, hiện đang công tác tại một cơ quan báo chí trung ương(vốn là một người lính Trường Sa sau khi hết nghĩa vụ quân sự mới về đất liền thi đại học), trong tất cả bài viết của mình đều lấy bút danh Phương Đông. Bởi, phía mặt trời mọc ấy cũng là Trường Sa...

Khoảng lặng bên Tượng đài Tây Tiến Mộc Châu

(HBĐT) - Trung đoàn 52 (Trung đoàn Tây Tiến) đã đi vào lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam bằng những dấu son chiến công đặc biệt. Trung đoàn cũng đi vào thi ca, nhạc họa và tạo nên những giá trị tinh thần bền bỉ cùng thời gian. Ghi nhận những chiến công, sự hy sinh mất mát của người lính Tây Tiến trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ở miền Bắc đã có nhiều tượng đài, con đường, trường học mang tên Tây Tiến. Tượng đài ở Châu Trang (Thượng Cốc - Lạc Sơn), đài tượng niệm ở ngã ba Chăm Mát (thành phố Hòa Bình), tượng đài ở Mường Lát (Thanh Hóa)…