Ít ai nghĩ rằng, ở một nơi hẻo lánh như xóm Suối Cỏ, xã Hợp Hòa, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình lại có những nghệ nhân đang hết lòng với việc giữ gìn cách làm giấy dó tưởng chỉ có ở Hà Nội hay Bắc Ninh.


Nghệ nhân Hoàng Thị Hậu thực hiện kỹ thuật seo giấy.

Người Mường làm giấy

Thông qua nhiều tư liệu lịch sử, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra nơi đầu tiên làm giấy dó là làng Nghĩa Ðô ở Cầu Giấy (Hà Nội), sau phát triển đến làng Bưởi (Yên Thái) - nơi có nghề làm giấy sắc phong nổi tiếng. Chẳng thế mà nhịp chày giã vỏ dó làm giấy đã đi vào ca dao, dân ca, gợi cảm hứng cho những tâm hồn thi nhân qua nhiều thế kỷ như: "Mịt mù khói tỏa ngàn sương/Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ” (ca dao) hay "Chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng/Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co” (Nguyễn Huy Lượng - Tụng Tây Hồ Phú)...

Sau Yên Thái, làng Ðống Cao ở Bắc Ninh cũng học được cách làm giấy và phát triển lưu giữ nghề đến tận ngày nay. Vì thế, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy ở một nơi như Suối Cỏ của huyện Lương Sơn lại có những nghệ nhân làm giấy dó người dân tộc thiểu số. Thậm chí, họ đã làm công việc này trong nhiều năm qua.

Theo chân một chương trình trải nghiệm làm giấy thường kỳ của Zó Project, một dự án doanh nghiệp xã hội hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển làng nghề giấy thủ công truyền thống của Việt Nam theo hướng phát triển bền vững, chúng tôi đã có dịp tận mắt chứng kiến quá trình làm giấy tại nhà nghệ nhân Nguyễn Văn Chúc. Thoạt đầu, khó mà nghĩ rằng ở một xã nằm sâu trong huyện miền núi Lương Sơn lại có nghề làm giấy nhưng ông Chúc cho biết, trong dự án bảo tồn các làng nghề của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam thì năm 2006, xóm Suối Cỏ, xã Hợp Hòa được xác định là nơi bảo tồn và phát triển nghề làm giấy nhờ lợi thế có vùng nguyên liệu và nguồn nước sạch tự nhiên. Có điều, sau 6 năm, khi dự án kết thúc, làng nghề cũng mai một dần do người dân không thể tìm được đầu ra cho sản phẩm. Thật may là trong từng đó năm, gia đình ông Chúc vẫn gắng giữ nghề, sản xuất cầm chừng, trong khi một mình ông Chúc đưa giấy về Hà Nội bán. Chính trong một lần như vậy, cơ duyên đã đưa ông gặp chị Trần Hồng Nhung, một người tâm huyết với việc bảo tồn và gìn giữ văn hóa dân tộc. Trước thực trạng đáng buồn là nghề làm giấy dó thủ công đang dần lụi tàn do không có thị trường tiêu thụ, chị Nhung và nhóm cộng tác viên đã khởi dựng dự án Zó Project từ tháng 6-2013. Cũng trong năm này, họ gặp nghệ nhân Chúc tại Hà Nội và năm 2014, hai bên đã kết hợp để duy trì dự án trong hơn bốn năm qua.

Tổ hợp tác sản xuất giấy dó thủ công xã Hợp Hòa ra đời ở Suối Cỏ, một xóm có 160 hộ với khoảng 570 nhân khẩu, 90% là người Mường, và đặt ngay tại nhà ông Chúc. Ngoài ông Chúc và vợ là bà Hoàng Thị Hậu, tổ hợp tác còn bốn hộ tham gia làm giấy. Ðể làm ra được những tờ giấy có kích thước khác nhau 30 x 40 cm, 60 x 80 cm... thì từ khâu khai thác nguyên liệu, chuẩn bị và sản xuất mất khoảng 15 ngày. Ban đầu, ông Chúc khai thác cây dó hoặc dướng ở vùng nguyên liệu cách nhà khoảng 8 km rồi mang về luộc, bóc vỏ. Sau những công đoạn như ngâm với 20% nước vôi, bóc vỏ, giã bằng chày tay cho đến khi thành một dạng bột nhuyễn rồi lọc và tùy từng loại giấy có thể nhuộm, ông Chúc thu được những thùng bột giấy mà người ở đây quen gọi là lề.

Tiếp đó là công việc ngâm lề trong tàu và seo giấy. Ðây là công đoạn mà ông Chúc cho biết, bà Hậu làm rất giỏi. Như bất cứ làng làm giấy nào, kỹ thuật seo giấy ở Suối Cỏ không có gì khác biệt. Sau khi đổ lề vào tàu, bà Hậu cho thêm một ít nước nhầy vào hòa. Nước nhầy này được gọi là mò, được chế từ vỏ cây mò có trên tỉnh Tuyên Quang sau khi được bào và ngâm cùng nước. Theo ông Chúc và bà Hậu, nếu không có nước mò, bột giấy sẽ không dính và tùy theo độ dày của giấy, tỷ lệ phù hợp nước mò sẽ được cho vào tàu. Nhờ nước mò, các tờ giấy khi được bóc khỏi liềm seo dù còn ướt, để chồng lên nhau vẫn không dính vào nhau.

Sau ít phút đánh tàu, bà Hậu lấy khuôn và liềm seo. Kích thước khuôn và liềm seo cũng là kích thước của giấy. Liềm seo ở đây giống như một chiếc mành nứa hoặc giang chẻ nhỏ như sợi tăm rồi dùng sợi tơ đan lại. Bà Hậu cho biết, nhìn vậy nhưng một chiếc liềm có giá đến vài triệu đồng. Chiếc liềm sẽ được bà Hậu chao đi chao lại trong tàu, trước lúc liềm được đặt lên một tấm vải để bóc giấy ra. Từng chồng giấy như vậy sau đó sẽ được ép hoặc phơi khô. Theo ông Chúc, cứ 10 kg vỏ tươi hoặc 4 kg vỏ khô nguyên liệu sẽ làm ra khoảng 120 tờ giấy.

 

Sổ tay, bưu ảnh, thư pháp được làm từ giấy dó.

Ðem lại giá trị gia tăng cho giấy dó

Hỏi ông Chúc về nỗi lo lớn nhất trong nghề làm giấy dó, nghệ nhân 57 tuổi này nói ngay, đấy là đầu ra của sản phẩm. Ông khẳng định, nguyên liệu luôn sẵn có trong vùng, người làm không thiếu bởi cho dù thanh niên thời nay thích làm trong Khu công nghiệp Lương Sơn hay đi xa làm ăn thì nghề làm giấy vẫn rất phù hợp với những người ở tuổi trung niên như vợ chồng ông cùng các nghệ nhân tại Suối Cỏ. Trong khi đó, do giá thành cao, hiệu quả sử dụng còn hạn chế và sự phát triển mạnh mẽ của giấy công nghiệp, cho nên thị trường giấy dó khó được mở rộng. Cũng vì thế, nếu thu nhập từ làm giấy dó thấp, các nghệ nhân sẽ buộc phải chuyển nghề.

Trao đổi về vấn đề này, chị Phạm Quỳnh Chi làm việc tại Zó Project cho biết thêm, là một doanh nghiệp xã hội, Zó Project quan tâm đến việc bảo tồn vùng nguyên liệu, cải thiện quy trình làm giấy thủ công theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường và tạo ra việc làm cho các cộng đồng người dân tộc thiểu số để họ có thêm thu nhập chứ không đơn giản chỉ là làm giàu cho doanh nghiệp. Ðáng chú ý, dự án hướng đến việc tạo ra thêm giá trị cho các loại giấy thủ công của Việt Nam bằng những sản phẩm thủ công có giá trị kinh tế cao. Nhờ vậy, bên cạnh những tờ giấy được dành cho vẽ tranh trong mỹ thuật dân gian, viết thư pháp... các sản phẩm mà nhóm chị Chi làm ra rất đa dạng, có tính ứng dụng cao như sổ tay, bưu ảnh, bưu thiếp, lịch bàn, lịch treo tường, quạt, thậm chí là những thứ tưởng không thể làm được với giấy dó như vòng tay, khuyên tai... Ðây đều là những sản phẩm được tiếp thị và bán ra chủ yếu cho khách du lịch nước ngoài tại các cửa hàng lưu niệm, khách sạn.

Ngoài việc trực tiếp thiết kế, sản xuất các sản phẩm thủ công liên quan đến giấy dó và giấy truyền thống, Zó Project tổ chức những hội thảo hướng dẫn sáng tạo cùng với giấy dó và giấy truyền thống ở cả Hà Nội và Hòa Bình. Ðây là một cách để mang giấy dó vào cuộc sống đời thường, đồng thời giúp mọi người hiểu và thêm yêu mến giá trị văn hóa truyền thống từ những gì đơn giản nhất như tờ giấy dó. Cũng vì thế mà trong các chuyến đi trải nghiệm Suối Cỏ, không chỉ có những vị khách du lịch, chuyên gia nước ngoài muốn tìm hiểu sâu hơn về nghề làm giấy của Việt Nam mà còn có rất nhiều bạn trẻ Việt Nam. Trong những chuyến đi như vậy, mọi người đều được nghệ nhân Chúc, nghệ nhân Hậu giới thiệu và hướng dẫn quy trình làm giấy, được tự mình làm ra sản phẩm đơn giản nhất là một tờ giấy và thưởng thức những món ăn đặc trưng của địa phương.

Sau đó, mọi người được đi thăm vườn ươm của gia đình ông Chúc. Ðây là nơi Zó Project và gia đình nghệ nhân trồng các cây nguyên liệu làm giấy như cây dướng, dó, cây chàm và cây cẩm hồng dùng để nhuộm giấy, cây rau ngót, cây chuối để lấy sợi thả vào giấy. Theo chị Lê Hồng Kỳ, thành viên dự án, để đa dạng hoạt động phục vụ cho những tua trải nghiệm, nhóm của chị đang tìm kiếm sự hỗ trợ và nguồn vốn đầu tư để xây dựng tại đây một nhà sàn, giúp khách du lịch có thời gian tìm hiểu thêm về nghề làm giấy, được nghỉ ngơi, thư giãn giữa vùng đồi núi Suối Cỏ thơ mộng cũng như có thể sửa sang khu nhà của nghệ nhân Chúc khang trang hơn, trở thành một điểm đến hấp dẫn của huyện Lương Sơn nói riêng và tỉnh Hòa Bình nói chung. Ở đây, việc kết hợp làng nghề và du lịch cũng là một giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao thu nhập cho chính những nghệ nhân vốn chỉ xem làm giấy là nghề phụ bên cạnh nghề nông.

Ðều đặn hai chuyến đi trải nghiệm mỗi tháng cho những ai muốn tìm hiểu nghề làm giấy dó, thế mới thấy thật đáng trân trọng tâm huyết của những nghệ nhân như ông Chúc, bà Hậu, sự đam mê và gắn bó của các thành viên Zó Project như Nhung, Chi, Kỳ... trong những năm qua. Họ đã góp một phần công sức của mình trong việc bảo tồn và phát triển nghề giấy thủ công truyền thống của Việt Nam theo hướng bền vững.

 

                              TheoNhandan

Các tin khác


Tác động, hệ lụy từ những dự án chậm tiến độ, không triển khai

Bài 1 - Dự án "nghìn vàng” bỏ hoang

(HBĐT) - Việc triển khai thực hiện Luật Đất đai năm 2013 và Luật Đầu tư trên địa bàn tỉnh thời gian qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư cũng như tạo cơ chế phù hợp cho tỉnh đẩy mạnh việc thu hút các dự án đầu tư. Tuy nhiên, trong hàng nghìn dự án đầu tư vào tỉnh, vẫn còn nhiều dự án đầu tư vốn ngoài ngân sách có sử dụng đất chậm hoặc không triển khai trong nhiều năm gây bức xúc trong dư luận, quần chúng nhân dân, thất thu ngân sách, lãng phí tài nguyên đất...

Trên cung đường huyền thoại

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là tuyến vận tải chi viện chiến lược từ hậu phương lớn miền bắc chi viện cho chiến trường miền nam. Năm 1975, đường Trường Sơn đoạn qua Tây Nguyên đã góp phần đưa bộ đội ta tiến quân vào giải phóng Sài Gòn. Sau 44 năm đất nước thống nhất, đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh ngày nay đã nâng cấp, mở rộng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra cuộc sống mới trên đại ngàn Trường Sơn.

Huyền thoại đường Hồ Chí Minh - Bài 4: Con đường chiến lược thời đại mới

Những lợi thế không chỉ "theo" Đường Hồ Chí Minh đến với người dân, mà cấp ủy, chính quyền các địa phương, đặc biệt là vùng duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, đã rất nỗ lực phát huy, tận dụng trục dọc xuyên Việt thứ 2 này để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế vùng, kết nối và mở rộng quan hệ quốc tế.

Huyền thoại đường Hồ Chí Minh - Bài 3: Mạch máu đất nước

Vào khoảng thời gian này cách đây 19 năm về trước, đường Hồ Chí Minh thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được khởi công xây dựng.

Huyền thoại đường Hồ Chí Minh - Bài 2: Ước vọng cháy bỏng

Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, sứ mệnh của Bộ đội Trường Sơn đã hoàn thành, mở ra hướng chuyển đổi chức năng, nhiệm vụ mới, với ước mong đường mòn Hồ Chí Minh sẽ được phát triển lên một tầm thế mới trong công cuộc dựng xây đất nước.

Huyền thoại đường Hồ Chí Minh –Bài 1: Tuyến lửa bất tử

60 năm trước có con đường đánh dấu mốc lịch sử quan trọng của dân tộc mang tên: Đường mòn Hồ Chí Minh.

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục