(HBĐT) - Sau những thắng lợi vang dội của chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Huế - Đà Nẵng, ngày 1/4, Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm chiến lược: Giải phóng miền Nam trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4/1975. Đây là quyết tâm hết sức đúng đắn và kịp thời của Bộ Chính trị, thể hiện trí tuệ của Đảng ta và tư duy quân sự của các tướng lĩnh đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Ngay sau đó, Bộ Chỉ huy (BCH) Miền đã họp, quán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị và bàn các giải pháp thực hiện.

 

Ngày 8/4/1975, BCH Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định (sau đổi tên thành BCH Chiến dịch Hồ Chí Minh) được thành lập. Căn cứ vào phương châm và tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân uỷ T.ư, Bộ Tư lệnh Chiến dịch xác định hướng tiến công chủ yếu là Bắc và Tây Bắc, trong đó hướng Tây Bắc là chủ yếu. Hướng Đông và Tây Nam là những hướng hiểm yếu và quan trọng.

  Xe tăng 390 húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập vào ngày 30/4/1975. ảnh: T.L

Từ tháng 4/1975, các binh đoàn chủ lực trên đường hành quân tiến về Sài Gòn đã đánh địch trên đường hành tiến, phá toang các tuyến phòng ngự vòng ngoài, từ xa của địch nhất là cánh quân phía Đông do Trung tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy, giải phóng Phan Rang, Bình Thuận, Bình Tuy, Xuân Lộc, Bà Rịa.

Ngày 9/4, quân ta bắt đầu cuộc chiến đấu tạo thế ở Đông Bắc - Tây Nam Sài Gòn và đánh địch ở toàn miền Đông Nam Bộ, đồng thời huy động lực lượng gồm 4 quân đoàn và một đơn vị tương đương quân đoàn với đầy đủ binh khí, kỹ thuật, hình thành 5 cánh quân theo 5 hướng bao vây Sài Gòn, đợi lệnh đồng loạt tấn công.

Ngày 26/4, cuộc Tổng tấn công quy mô lớn vào TP Sài Gòn bắt đầu. Quân ta đồng loạt nổ súng tiến công mãnh liệt trên toàn mặt trận. Năm cánh quân lớn của ta, hiệp đồng với các LLVT địa phương và được sự giúp đỡ của quần chúng nhân dân nổi dậy nhất loạt tiền công với sức mạnh vũ bão.

Chỉ trong vài ngày đầu tiên của Chiến dịch, quân ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng địch trên tuyến phòng thủ vòng ngoài, cắt đứt giao thông thuỷ bộ, chặn đường rút chạy ra biển, xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long và siết chặt vòng vây xung quanh Sài Gòn, quân địch lúc đó như “cá nằm trong rọ”.

Chiều ngày 28/4, cuộc tập kích sân bay Tân Sơn Nhất lần 2 của không quân ta đã phá huỷ nhiều máy bay địch gây cho địch nhiều thiệt hại lớn, cắt đứt chi viện hỏa lực cho quân đội và cắt đứt cầu hàng không duy nhất của địch, không cho chúng chạy ra nước ngoài.

Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng quân ngụy Cao Văn Viên đã chạy thoát khỏi Sài Gòn ngay trong ngày 28/4.

Đêm 28 rạng ngày 29/4, các Binh đoàn chủ lực của ta đã phối hợp chặt chẽ với các LLVT địa phương đồng loạt công kích từ nhiều hướng, tiêu diệt các tập đoàn phòng ngự và các căn cứ phòng ngự cuối cùng của địch ở các căn cứ Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Củ Chi, Hậu Nghĩa, Tân An. Diệt và làm tan rã đại bộ phận lực lượng quân sự thuộc Quân đoàn 3 ngụy và các lực lượng cơ động còn lại của chúng.

Ngày 30/4, với sự hợp đồng chiến đấu của các lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, các lực lượng biệt động tự vệ ở vùng ven và nội đô kết hợp với sự nổi dậy của quần chúng trong và ngoài thành phố, các cánh quân hùng mạnh của ta đã thần tốc thọc sâu, bỏ qua một số cứ điểm ngoại vi, đánh thẳng vào trung tâm TP Sài Gòn. Lực lượng ta nhanh chóng tiến thẳng vào chiếm các mục tiêu quan trọng, đã được phân công trong TP Sài Gòn - Gia Định như: Bộ Tổng tham mưu, Biệt khu thủ đô, Tổng nha cảnh sát, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài phát thanh, Bộ Quốc phòng, Bộ tổng tham mưu ngụy và khu cảng Bạch Đằng.

10g ngày 30/4, Trung đoàn 66 bộ binh, cùng với xe tăng của Lữ đoàn 203 thuộc Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 tiến công thọc sâu, đập tan toàn bộ lực lượng phòng ngự của quân ngụy vượt qua sông Sài Gòn.

10g45 cùng ngày, quân ta chiếm Dinh Độc Lập (Phủ Tổng thống ngụy) giữa lúc ngụy quyền Sài Gòn đang họp các Tổng trưởng để ra mắt “tân nội các”. Đúng 11g30 ngày 30/4/1975, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Phủ Tổng thống ngụy, Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh phải chấp nhận đầu hàng không điều kiện. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.

Trên đà chiến thắng, từ ngày 30/4, đồng bào và chiến sỹ các tỉnh Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long đã đồng loạt tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, lần lượt giải phóng các tỉnh còn lại. Ngày 1/5/1975, toàn bộ lãnh thổ trên đất liền miền Nam Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng.

Cùng với các tỉnh ở đất liền, ngày 30/4, các chiến sỹ yêu nước bị địch giam giữ ở Côn Đảo đã nổi dậy, làm chủ hoàn toàn đảo này. Ngày 2/5, Quân giải phóng phối hợp với nhân dân tiến công và nổi dậy, giành quyền làm chủ hoàn toàn đảo Phú Quốc.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh (tính từ ngày 9 - 30/4/1975), quân và dân ta đã tiêu diệt, làm tan rã hơn 40 vạn tên địch, gồm 10 sư đoàn quân chủ lực và tổng động viên, 12 chiến đoàn thiết giáp, 5 sư đoàn không quân, đánh sập toàn bộ ngụy quyền trung ương và địa phương gồm 22 vạn tên, giải phóng Sài Gòn - Gia Định (nay là TP Hồ Chí Minh) và toàn bộ các tỉnh còn lại, kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

Chiến dịch Hồ Chí Minh là đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Thắng lợi của Chiến dịch Hồ chí Minh là thắng lợi vĩ đại nhất, trọn vẹn nhất, kết thúc 30 năm chiến tranh lâu dài, gian khổ, ác liệt nhất nhưng cũng vẻ vang nhất trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc và xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước.

                                                          Trích theo An ninh Thủ đô điện tử

 

Các tin khác


Trường Sa Đông - mặc sóng gió, mãi hiên ngang trước biển

(HBĐT) - Mặc dù trước khi lên đảo, chúng tôi được nghe kể nhiều về Trường Sa Đông. Nhưng quả thật, khi xuồng còn chưa cập đảo, tôi đã choáng ngợp trước màu xanh của cây cối hoà trong sắc xanh vời vợi của trời và màu nước xanh thăm thẳm của biển cả...

Ký sự Trường Sa Bài 6 - “đẹp dịu dàng tiên nữ - an bang”

(HBĐT) - "Tôi muốn ôm ghì bãi san hô/Vang vọng về con sóng Bạch Đằng Giang/Một màu xanh Sinh Tồn, Song Tử/Đẹp dịu dàng tiên nữ An Bang/Bao xương máu đắp hình hài Tổ quốc/Vang vọng về dòng máu Lạc Hồng xưa...”, lời bài hát "Bâng khuâng Trường Sa” của tác giả Lê Đức Hùng mỗi sáng sớm được phát trên hệ thống phát thanh của tàu Trường Sa 571 đọng lại thật nhiều cảm xúc. Giữa trùng khơi dữ dằn sóng gió, chúng tôi vẫn thấy vẻ đẹp dịu dàng nơi điểm đảo cực Đông và cực Nam trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Tổ quốc...

Cô Lin, Sinh Tồn vững vàng nơi “mắt bão”

(HBĐT) - Cô Lin, Sinh Tồn - điểm đến đầu tiên của cuộc hải trình của đoàn công tác số 11 đến thăm, động viên quân và dân trên quần đảo Trường Sa và nhà giàn DK1. Nhìn trên bản đồ, Cô Lin, Sinh Tồn chỉ nhỏ như một vết chấm nhỏ, song đã đi vào lịch sử nước nhà bằng những chiến công bi tráng trong chiến dịch bảo vệ chủ quyền năm 1988 của CBCS Hải quân nhân dân Việt Nam.

Bài 5: Bất tử Gạc Ma

(HBĐT) - Cũng giống như tất cả các cuộc hải trình đến với Trường Sa trước đây, điểm đến đầu tiên của chúng tôi không phải là điểm đảo. Mà là một cuộc tưởng niệm những người lính đã hy sinh vì chủ quyền biển đảo tại Gạc Ma ngày 14/3/1988. Dù đã 30 năm, nhưng nước mắt vẫn chưa ngừng rơi...

Bài 4 – Cuộc hành trình đi về phía mặt trời

(HBĐT) - Cho đến bây giờ, trong chuyến hải trình cùng con tàu Trường Sa 571, tôi mới hiểu tại sao trong suốt bao nhiêu năm qua, anh bạn học cùng Đại học, hiện đang công tác tại một cơ quan báo chí trung ương(vốn là một người lính Trường Sa sau khi hết nghĩa vụ quân sự mới về đất liền thi đại học), trong tất cả bài viết của mình đều lấy bút danh Phương Đông. Bởi, phía mặt trời mọc ấy cũng là Trường Sa...

Khoảng lặng bên Tượng đài Tây Tiến Mộc Châu

(HBĐT) - Trung đoàn 52 (Trung đoàn Tây Tiến) đã đi vào lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam bằng những dấu son chiến công đặc biệt. Trung đoàn cũng đi vào thi ca, nhạc họa và tạo nên những giá trị tinh thần bền bỉ cùng thời gian. Ghi nhận những chiến công, sự hy sinh mất mát của người lính Tây Tiến trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ở miền Bắc đã có nhiều tượng đài, con đường, trường học mang tên Tây Tiến. Tượng đài ở Châu Trang (Thượng Cốc - Lạc Sơn), đài tượng niệm ở ngã ba Chăm Mát (thành phố Hòa Bình), tượng đài ở Mường Lát (Thanh Hóa)…