(HBĐT) - Hát đối hay còn gọi là hát ví, hát đúm - một hình thức sinh hoạt văn hóa đã có từ thuở "Đẻ đất, đẻ nước” của đồng bào Mường. Trong nhịp sống hiện đại, với sự du nhập của nhiều loại hình  văn hóa, nghệ thuật khác mà hát đối đã không còn giữ được sức sống mạnh mẽ như xa xưa. Tuy nhiên, những câu hát tràn đầy ý thơ, thể hiện sự đối đáp khéo léo vẫn là món ăn tinh thần đầy hấp dẫn ở các Mường trong tỉnh.

Hát đối là sinh hoạt văn hóa đặc sắc diễn ra trong đời sống thường ngày của người Mường. Ảnh chụp tại xã Ngọc Lâu (Lạc Sơn).

Hát đối, thực chất là một cuộc trò chuyện, đối đáp trong đời sống hằng ngày của người Mường. Không gian diễn ra hát đối có thể là ở trên nương, rẫy, trong mái nhà sàn hay bất kỳ nơi đâu. Sự khác biệt ở đây là những lời tâm tình, truyện trò đó được "phổ nhạc” nên có âm điệu, có vần nhịp và khiến người ta "say" nhau. Xưa kia, ở mỗi bản Mường đều có những người hát đối giỏi, được dân làng yêu mến, kính trọng, thậm chí tôn sùng. Thế mới có chuyện,  mỗi khi trong xóm có hội hè, lễ tết thì những cây hát sẽ được săn đón. Tiêu chí đánh giá người hát hay, hát đối giỏi cũng khá khắt khe,  ngoài sở hữu giọng hát ngọt ngào trời phú thì người đó còn phải thật hoạt ngôn, với những câu hát có vần, nhịp như những câu thơ. Vì sự hấp dẫn của hát đối mà ở các bản Mường, xưa kia có không ít những cuộc hát thâu đêm, suốt sáng. Nhiều người vì say mê tiếng hát của nhau mà nên vợ thành chồng.

Cụ Bùi Thị Ưu, xóm Rên, xã Gia Mô, huyện Tân Lạc sinh ra và lớn lên ở mảnh đất xóm Mùi, xã Phú Cường – một trong những cái nôi đã nuôi dưỡng nhiều cây hát đối nổi tiếng của vùng Mường Bi rộng lớn. Theo lời cụ kể, từ khi lên năm, lên sáu tuổi, tuổi thơ của cụ đã được "tắm” trong những câu hát đối thắm đượm ân tình. Khi đó, hát đối trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong những dịp lễ, tết và những việc trọng đại của mỗi gia đình trong thôn, bản. Càng nghe càng thấm thía và kính phục những đàn anh, đàn chị, rồi tự lúc nào những câu hát đối đã "nhảy nhót” trong tâm trí của những đứa trẻ ở bản Mường. Lên chín, lên mười bắt đầu hát đối, rồi mười bốn, mười năm tuổi bắt đầu hát giao duyên. Đến tuổi mười tám đôi mươi, trong dịp cụ đi tham gia dân công mở đường đã tình cờ gặp gỡ và phải lòng người chồng vì tiếng hát hay. "Khi gặp người hát giỏi, câu hát có lý, có tình, có vần điệu thì muốn muốn hát thâu đêm, suốt sáng với nhau. Qua những câu hát mà hiểu tư tưởng, tình cảm của nhau. Còn những người hát hay nhưng lại không có lý (lý ở đây chỉ sự nhanh nhạy trong đối đáp – PV) thì cuộc hát sẽ không kéo dài, không thu hút được người nghe”, cụ Ưu chia sẻ.

Vần, điệu để tạo ra những câu hát hay, nghe xuôi tai thực chất là cách gieo vần giống như thể thơ lục bát. Nghĩa là tiếng thứ  6 của câu sáu chữ phải vần với tiếng thứ 6 của câu tám chữ. Các nghệ nhân dân gian cũng áp dụng nguyên tắc này để sáng tác những bài hát Mường. Ví như bà Bùi Thị Xuân, xóm Vôi, xã Liên Vũ nhiều năm qua đã sáng tác hàng chục bài hát Mường. Trong cuốn sổ ghi chép lại hàng chục bài hát của bà Xuân, chúng tôi đều nhận thấy rõ, nếu không "phổ nhạc” theo làn điệu dân ca Mường thì đây đều là những bài thơ được sáng tác theo thể thơ lục bát. Trong bài Hội đu Mường Vôi mà bà Xuân sáng tác, có thể nhận thấy rõ việc áp dụng nguyên tắc trên: "Cổ truyền đu hội dân gian/ Vọng vang khúc hát với làn điệu xưa/ Xuống đồng cầu nắng, cầu mưa/ Dân làng sung túc, chiêm mùa bội thu”. Hay trong bài dân ca Mường nổi tiếng, ca khúc "Mời trầu", sự mềm mại xuyên suốt trong bài hát cũng đến từ cách gieo vần hết sức khéo léo. Ngay câu mở đầu bài hát đã thể hiện rõ chất thơ đó: "Vào vườn hái quả cau xanh/ Mang về bổ tám, mời anh ăn trầu...".

Chất thơ trong hát đối không chỉ thể hiện qua nguyên tắc sáng tác nhiều tương đồng đối với thể thơ lục bát, mà còn được thể hiện qua những hình ảnh được lãng mạn hóa hay những phép tu từ mà những cây hát ở các bản Mường khéo léo sử dụng. Trong đó, chủ đề hát giao duyên thể hiện rõ nhất cách mà trai gái Mường khéo léo để sử dụng những hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ để nói lên tình cảm của mình. Ví dụ, trong câu hát đối của mình, chàng trai đã mượn hình ảnh đèn kì (đèn dầu) để ngầm bộc lộ tình cảm với cô gái: "Xin phép cái bóng đèn kì/ Chớ cho quá lứa, lỡ thì mà khơi (khơi nghĩa là tiếc nuối). 
Tóm lại, chính cách gieo vần mềm mại và sử dụng các phép tu tình tinh tế đã tạo ra sức hấp dẫn cho những câu hát đối của người Mường. Dù hát đối đã dần mai một nhưng ở các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng cao, hát đối vẫn là lối sinh hoạt được bà con người Mường ưa chuộng. Đặc biệt, trong những ngày vui xuân, đón Tết, những câu hát đối sẽ lại vang ở các bản Mường và trong các lễ hội dân gian đầu xuân.

 Viết Đào

Các tin khác


Độc đáo văn hóa tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên hay tín ngưỡng thờ cúng những ông vua có công khai lập ra một quốc gia, một triều đại của một thể chế nhà nước thuở sơ khai là những nét sinh hoạt văn hóa mang tính tương đồng, dễ nhận thấy ở nhiều nền văn hóa, nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới. Điều đó càng đặc biệt được thể hiện ở các nước có chung những đặc điểm lịch sử - xã hội hoặc môi trường sinh tồn giống nhau, gần gũi nhau.

Cuộc thi Tài năng diễn viên múa toàn quốc 2020 diễn ra vào tháng 10

Theo thông tin từ Cục Nghệ thuật biểu diễn, Cuộc thi tìm kiếm tài năng diễn viên múa toàn quốc do Cục tổ chức sẽ diễn ra vào tháng 10 tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.

Văn học - Nghệ thuật Hòa Bình:Thăng hoa cùng bản sắc

(HBĐT) - Hòa Bình là tỉnh miền núi, nơi cư trú của đông đảo cư dân các dân tộc thiểu số. Nền văn hóa đa sắc màu đã gợi mở nhiều đề tài hay, độc, lạ cho giới văn, nghệ sỹ trong và ngoài tỉnh. Bởi vậy, trong những năm gần đây, văn học - nghệ thuật (VH-NT) của tỉnh đã ghi dấu sự thăng hoa.

Người dân đất Việt hướng về Giỗ Tổ Hùng Vương 

(HBĐT) - Câu ca "Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba" không ai biết có tự bao giờ, nhưng bao đời nay, đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân đất Việt. Và ngày mùng 10 tháng 3 trở thành ngày Quốc giỗ của cả dân tộc, nhằm tri ân công đức của các Vua Hùng lập nên Nhà nước Văn Lang, nền móng của dân tộc ta bây giờ và dạy dân cày ruộng, cấy lúa, ban linh khí cho đất đai, nhà cửa, cây trồng, vật nuôi sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu. 

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - Hội tụ và lan tỏa trong đời sống cộng đồng

Lịch sử dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam được mở đầu bằng thời đại Hùng Vương với công lao dựng nước của các Vua Hùng. Công lao ấy được cộng đồng người Việt khắc ghi ngàn đời nay, trở thành truyền thống cao đẹp với triết lý "Con người có tổ có tông”. Người Việt đã suy tôn các vua Hùng là Thủy tổ của dân tộc, nên việc thờ cúng Hùng Vương đã trở thành tập quán, tín ngưỡng và cứ thế được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Xao xuyến vẻ đẹp hàng cây xóm Đằm

(HBĐT) - Tháng 3 này là thời đẹp nhất của hàng cây bàng trên đường vào xóm Đằm, phường Dân Chủ (TP Hòa Bình). Ai yêu vẻ đẹp thiên nhiên không thể không đến xóm ngắm hàng bàng mùa thay lá, chồi non đâm lộc. Thời tiết giao hòa chuyển mùa cũng là mùa cây bàng thay lá. Lòng lắng lại bình yên cảm nhận sự chuyển giao thời tiết với những bâng khuâng luyến nhớ, xao xuyến mênh mang.

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục