(HBĐT) - Bốn Mường Hòa Bình đều có các xóm, xã vùng cao. Do vị trí địa lý có nhiều khó khăn, trở ngại nên các địa phương này vẫn là nỗi lo toan, trăn trở về sự phát triển nhiều mặt của các cấp, các ngành. Vì thế hồi còn công tác tôi đã nhiều lần lên với các xã vùng cao của các Mường: Bi, Vang, Thàng. Huyện Kỳ Sơn (nay thuộc TP Hòa Bình) là vùng đất thấp hơn nhưng cũng có xã Độc Lập và xóm Dối (xã Dân Hạ) thuộc diện vùng cao.


Nét đẹp vùng cao quê nhà. C.b (ST)

Với trách nhiệm được phân công, tôi đã có những lần lên với Lũng Vân, Tân Lạc, lên với chùa Khánh, Yên Thượng, Yên Lập - nay là xã Thạch Yên (Cao Phong). Lần lên với xã Độc Lập, huyện Kỳ Sơn, tôi có bài ký "Vùng đất phía đỉnh đầu”, cũng là tên một tập Ký và tản văn cùng tên - năm 2016.

Kể từ lần đầu tiên cùng với Bí thư Huyện ủy Lạc Sơn Bùi Văn Thuộm lên với vùng cao của huyện ngày ấy, đến nay đã mười mấy mùa ngô, mùa lúa nương chín vàng óng. "… Vùng cao con gái ít làm duyên/ Nói cười như chim hót/ Trai Ngọc Lâm, Ngọc Sơn chắc như cây sến, cây lim/ Nâng những mái nhà sàn chất ngất/ Yêu những Bãi Bùi, Nà Lọt… ngô lúa chất đầy thung…” (bài thơ Vùng Cao - tập Bóng cây Chu Đồng) - năm 2005. Với sự đầu tư điện, đường, trường, trạm của Nhà nước theo các dự án cho vùng cao, vùng sâu, vùng xa thì vùng cao của bốn Mường ngày nay đã có nhiều đổi thay. Nếu như các địa phương vùng cao có tốc độ phát triển các mặt còn bất cập so với vùng thấp thì ngược lại nhiều mặt tốt đẹp, đáng quý lại được gìn giữ như môi trường, nguồn nước sinh hoạt, thuần phong mỹ tục… Những đêm Mo, sắc bùa, những bài dân ca, dân vũ từ ngàn đời vẫn được bảo tồn, lưu giữ. Ngày nay lên vùng cao ta sẽ gặp lại những cây bản địa mà thuở thiếu thời đã gặp ở vùng thấp.

Hơn hết vùng cao vẫn là nơi thiên nhiên ưu đãi, khí hậu mát mẻ với những rừng cây! Những cây lâu năm (cho dù chỉ là gỗ tạp) dẫu phải oằn lưng với bao nhiêu cành lá vẫn ráng sức nâng đỡ các loại dây leo, để dây leo vươn lên cao lưng chừng trời mà đón những làn gió mới, đón ánh mặt trời ấm áp. Các loài cây ở những khu rừng nguyên sinh, đặc dụng chỉ bằng lá rụng, cây mục…Chúng đã từng nuôi sống nhau từ ngàn đời nay, đó sao!

Thảm thực vật, khu rừng nguyên sinh là nơi lưu giữ, phát sinh các nguồn nước trong bốn Mường. Về mùa mưa dựa vào độ dốc của đất, đá mà hình thành nên thác nước trắng xóa giữa sườn núi xanh, thôi miên biết bao du khách thập phương, đó là những thác Mu, thác Thăng Thiên… khắp bản, khắp Mường. Đó cũng chính là thời khắc đất, đá đã đánh thức, đã tôn vinh vẻ đẹp thiên phú của nước.

Lên vùng cao ta sẽ gặp nhiều cụ già trăm tuổi, như những đại thụ giữa quây quần con cháu, chắt. Dẫu khá nhiều người có tên gọi thoạt nghe thì đơn nghĩa, mộc mạc lại là những tấm lòng đôn hậu, chân chất, tự nhiên như "trâu ra đồng ăn cỏ, người đến nhà ăn cơm”. Vừa qua tôi có dịp trở lại với xóm Dối - một xóm vùng cao - như đã nói phần trên. Bởi cách đây trên nửa thế kỷ, với tính hiếu kỳ tôi cùng lũ trẻ chăn trâu trong xóm đã đặt chân lên tới địa danh này. Thế là từ đó cứ băn khoăn trong tôi với cái tên xóm Dối. Sao lại là Dối? Hẹn có dịp sẽ phải làm rõ điều này. Ngày nay lên với xóm Dối có thể bằng nhiều con đường liên huyện, liên xã. Từ Bãi Chạo, xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi, từ thành phố Hòa Bình, từ xã Dân Hạ, huyện Kỳ Sơn, những con đường lên với xóm Dối như những "tua còn” ngày hội. Ven đường ngút ngàn cây lá hầu hết là cây ăn quả, cây công nghiệp… các đồi núi đều đã có chủ. Một sáng mùa thu đẹp trời, nắng mới bừng lên, réo rắt chim hót ven đường. Núi Cấm vẫn là nóc nhà của xóm, một bên là xóm Dối, phía bên kia là xóm Bình Tiến của bà con người Dao. Xóm Dối có 123 hộ, xóm Bình Tiến có 48 hộ theo chủ trương mới của Nhà nước đã có sự sáp nhập hai xóm, với tên mới là Mường Dao. Xóm Mường Dao về với xã Độc Lập, thuộc thành phố Hòa Bình, bởi các xóm khác của xã Dân Hạ sẽ về với phường Kỳ Sơn. Tiếp chúng tôi tại trụ sở, Trưởng xóm Đinh Văn Thu cho biết: Bà con đồng tình cao với chủ trương chung, nhưng không tránh khỏi những băn khoăn: Đường về xã mới sẽ xa hơn, phong tục tập quán của hai xóm cũng có sự khác nhau. Xóm vùng cao lại về với xã vùng cao thôi! Tôi động viên, an ủi: Quê hương chọn chúng ta mà, ai có quyền chọn quê hương, ở đâu cũng phải tự vượt lên chính mình thôi, thực tế thì xóm Dối đã khác xưa nhiều lắm, nhà cửa khang trang, nhiều con em đã vào các cơ quan, xí nghiệp ở vùng thấp, nhiều cây con mới đã về với xóm bản, trại nghiên cứu giống lợn Thụy Phương của Trung ương đã tọa lạc nơi đầu xóm từ mấy năm trước.

Trở lại với điều băn khoăn đã nêu trên của tôi về cái tên xóm Dối. Trong bữa cơm trưa đãi khách ngày ấy tại gia đình mình ông Đinh Văn Nấm gần 70 tuổi (nhập ngũ năm 1968, có một em trai là liệt sỹ, nguyên là Thường trực Đảng ủy xã Dân Hạ), hiện là Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam huyện Kỳ Sơn cho biết sơ bộ về lịch sử xóm Dối: Dân đến định cư tại đất này khoảng 10 đời, mới đầu chỉ có 3 hộ, ngày có cây đa giữa xóm mới có 20 hộ, chủ yếu là họ Đinh, năm 1959 do những nguyên nhân khác nhau một số người đổi sang họ Nguyễn. Còn theo nghệ nhân Đinh Xuân Châm, người xóm Dối, hiện làm việc tại Làng Mường, thuộc làng văn hóa các dân tộc Việt Nam thì: Ngày đầu có ba chòm dân cư là: Cò Cháu, Đồng Khang, và sau đó là Cây Bưởi. Có bà cụ tên Tơ người xóm Thung Rếch, xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi đã gả con gái cho con trai gia đình ông Bựng ở chòm cây Bưởi. Thế là từ đó, xuất hiện tên xóm Dối bao gồm 3 chòm dân cư trước đó. Thực hư ra sao không rõ. Làm nương rẫy trồng ngô, lúa người dân vùng cao thường xen canh các loại cây rau, các loại dây có quả như bầu bí, mướp. Thế là cả con người và tập quán canh tác vùng đất này đều phải xen canh, phải Dối (Dọi).

Được nghe chính người dân xóm Dối nói về sự tích tên quê hương bản quán của mình, chúng tôi thấy hởi lòng, hởi dạ. Trào dâng niềm vui khôn xiết, chúng tôi lại xuôi về vùng thấp và nghĩ thành phố Hòa Bình đã có một xã vùng cao, trong đó có xóm Dối, đó là một yếu tố cần thiết để vùng thấp, vùng cao bổ trợ cho nhau cùng phát triển, cùng đi lên trong xu thế hội nhập ngày nay.

Tùy bút của Đinh Đăng Lượng


Các tin khác


Nhịp sống mới ở những vùng đất khó

(HBĐT) - Hệ thống hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường học, trạm y tế được quan tâm đầu tư xây dựng đã giúp bộ mặt nhiều vùng quê trong tỉnh khởi sắc, tiến nhanh hơn trong hành trình xây dựng nông thôn mới. Những con đường mới đã đem đến không khí hân hoan để bà con vui Tết Độc lập.

Ký sự bản Mông


(HBĐT) - Sống giữa núi rừng Tây Bắc, người dân bản Mông vẫn luôn mạnh mẽ, kiên cường, với khát vọng vươn lên trở thành bản, làng văn minh dựa trên nền tảng truyền thống, là điểm đến hấp dẫn bạn bè phương xa. Bản Mông hôm nay đã khác, đã có những thứ tạo nên sợi dây níu chân người ở lại.
Bài 2 - Hiện thực hóa khát vọng "nảy mầm xanh trên đá”

Ký sự bản Mông

(HBĐT) - "Tôi có may mắn được đặt chân đến nhiều vùng đất, gặp gỡ nhiều con người thuộc nhiều dân tộc khác nhau. Ở mỗi nơi, cái tình của con người lại được thể hiện bằng những cách khác nhau, nhưng họ đều chung sự chân thành. Và ở bản Mông thuộc 2 xã Hang Kia, Pà Cò (Mai Châu) cũng vậy, đã lâu mới quay trở lại, vẫn những con người chân chất, hiền hòa. Bản Mông năm nào nay đã khoác lên mình "chiếc áo” mới của cơ sở hạ tầng khang trang, chất lượng cuộc sống được cải thiện, và hơn thế nữa là sự đoàn kết cộng đồng, tin tưởng vào Đảng, chính quyền của người Mông". Đó là lời tâm huyết từ một sỹ quan quân đội, người con của bản làng, Thiếu tá Hàng A Phứ, Chính trị viên phó Ban CHQS huyện Mai Châu.
Bài 1: "Sinh ra từ làng, phải góp sức cho làng!”

Mo Mường Hòa Bình hướng tới di sản văn hóa thế giới

(HBĐT) - Với những giá trị vô cùng đặc sắc, quý giá, nhưng mo Mường đang đứng trước nguy cơ mai một. Tỉnh đã triển khai các biện pháp bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu này và có những tín hiệu vui trên đường tới di sản văn hóa thế giới.
Bài 2 - Đường tới di sản thế giới

Mo Mường Hòa Bình hướng tới di sản văn hóa thế giới

(HBĐT) - Người Mường ở Việt Nam sống tập trung đông nhất tại tỉnh Hòa Bình. Hòa Bình cũng là cái nôi của nền "Văn hóa Hòa Bình” nổi tiếng, nơi có 63,3% dân số là dân tộc Mường. Suốt chiều dài lịch sử, người Mường đã sáng tạo, chắt lọc, lưu giữ kho tàng di sản văn hóa phong phú, đặc sắc. Trong đó, mo Mường là một hiện tượng văn hóa nổi trội, di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu, đặc biệt, quý giá, có giá trị tư tưởng, nhân văn sâu sắc.
Bài 1 - Khẳng định giá trị tiêu biểu, đặc biệt của mo Mường

Bức tranh cuộc sống mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số

(HBĐT) - Chất lượng cuộc sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đã được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm, xuất hiện ngày càng nhiều hộ làm kinh tế giỏi. Tuy nhiên, để vùng đồng bào DTTS phát triển đồng đều, thu hẹp khoảng cách với vùng thuận lợi, thì cả hệ thống chính trị cần quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, nhằm hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững tại các xã vùng sâu, xa, vùng đặc biệt khó khăn (ĐBKK).
Bài 2 - Nâng cao chất lượng đời sống người dân 

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục